Bản án 108/2019/HS-ST ngày 02/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 108/2019/HS-ST NGÀY 02/10/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 02 tháng 10 năm 2019, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2019/TLST-HS ngày 27/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 104/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn Đ, sinh ngày: 27/7/1993. Nơi cư trú: Tổ 19C, khu 6, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: lớp 12/12. Con ông Trịnh Văn Đ1 (Trịnh Thắng Đ1) và bà Đường Thị H. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt quả tang ngày 07/6/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Uông Bí, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Đức Th. Địa chỉ: Khu N, phường NK, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Đỗ Văn D. Địa chỉ: Khu NG, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

2. Anh Cao Văn R. Địa chỉ: Khu L, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 07/6/2019, tại tổ 4, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Công an phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang bị cáo Trịnh Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, bị cáo dùng tay phải ném xuống nền đường (cách chỗ bị cáo đứng khoảng 0,2m) 01 (một) vỏ bao thuốc lá Saigon màu trắng bạc, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra, công an còn thu giữ của bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, trong gắn 02 (hai) sim số: 0393 533 336 và 0365 619 897, cùng số tiền 275.000đ (hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Thu giữ của anh Nguyễn Đức Th (đi cùng bị cáo): 01 (một) ống thủy tinh màu trắng, dài khoảng 15cm, một đầu thẳng, một đầu uốn cong, có bầu tròn và 01 (một) chiếc xe mô tô Honda Lead màu đỏ, biển kiểm soát (BKS) 14Y1-104.10.

Tại bản Kết luận giám định số 482/GĐMT ngày 10/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; Khối lượng: 0,322g (không phảy ba trăm hai mươi hai gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn Đ khai nhận: Chiều ngày 07/6/2019, anh Nguyễn Đức Th điều khiển xe mô tô BKS 14Y1-104.10 đến nhà đón bị cáo đi uống nước tại khu vực sân tròn phố đi bộ. Khi đi, bị cáo mang theo 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Tại đây, bị cáo gọi điện thoại hỏi mua ma túy đá của một người bạn, người này nói không bán nữa, sau đó giới thiệu bị cáo cho một người tên Long, người này hẹn bị cáo đến lấy ma túy ở ngõ cạnh Nhà văn hóa khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí. Sau đó, bị cáo nhờ anh Th (không nói cho anh Th biết bị cáo đi mua ma túy) chở bị cáo đến đầu ngõ, anh Th đợi ở ngoài còn bị cáo đi vào ngõ gặp rồi đưa 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) cho một người đàn ông không quen biết tên Long và nhặt trên nền đất 01 (một) vỏ bao thuốc nhãn hiệu Saigon mà Long chỉ. Xác định bên trong có ma túy đá, bị cáo dùng tay phải cầm vào bao thuốc lên và đi ra xe chỗ anh Th đang đợi. Khi bị cáo vừa ngồi lên xe thì bị Công an đến kiểm tra. Do lo sợ, bị cáo đã thả bao thuốc có chứa ma túy đang cầm trong lòng bàn tay phải xuống nền đất, công an đã phát hiện và thu giữ số ma túy trên.

Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức Th: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 07/6/2019, anh điều khiển xe mô tô BKS 14Y1-104.10 (xe của ông Nguyễn Đức Th1, anh mượn để làm phương tiện chở bị cáo đi chơi), đi từ thành phố Hạ Long về đến nhà bị cáo ở phường Quang Trung, thành phố Uông Bí để đón bị cáo đi uống nước, do anh và bị cáo có hẹn trước. Anh chở bị cáo đến quán nước ở gần rạp hát ở phường Quang Trung, thành phố Uông Bí. Anh và bị cáo ngồi uống nước, nói chuyện với nhau khoảng 30 phút thì bị cáo bảo anh chở đến một đầu ngõ nhỏ ở gần chợ Yên Thanh, thành phố Uông Bí. Đến đầu ngõ bị cáo bảo anh đứng chờ ở đầu ngõ, còn bị cáo xuống xe đi vào bên trong ngõ (bị cáo vào trong ngõ làm gì anh không biết). Khoảng 05 phút sau bị cáo đi bộ ra và ngồi lên xe máy của anh. Khi anh vừa nổ máy để chở bị cáo đi thì lực lượng công an phường Yên Thanh đến kiểm tra. Khi kiểm tra công an đã phát hiện và thu giữ tại dưới nền đường cách vị trí bị cáo đứng khoảng 20cm có 01 (một) vỏ bao thuốc nhãn hiệu Saigon màu bạc, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, anh được nghe bị cáo khai đó là ma túy đá. Cơ quan công an cũng đã thu giữ của bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen cùng sim liên lạc trong máy và số tiền 275.000đ (hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Thu giữ của anh 01 (một) chiếc xe mô tô BKS 14Y1-104.10, trong cốp xe máy này có 01 (một) ống thủy tinh dài khoảng 15cm, một đầu thẳng, một đầu uốn cong. Chiếc “nỏ” này là của anh, do một người bạn của anh cho anh từ mấy hôm trước, anh để trong cốp xe nhằm mục đích mang về cất để sưu tầm làm kỷ niệm. Việc bị cáo mua và mang theo ma túy anh không được biết (bút lục số 66- 69) Lời khai của những người chứng kiến: Ông Đỗ Văn D và ông Cao Văn R được chứng kiến tại thời điểm bị cáo bị bắt giữ có lời khai thể hiện: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 07/6/2019, tại tổ 4, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, được chứng kiến lực lượng công an yêu cầu kiểm tra 02 (hai) người đàn ông là anh Nguyễn Đức Th và bị cáo Trịnh Văn Đ. Khi lực lượng công an kiểm tra thì bị cáo dùng tay phải thả một bao thuốc xuống đường cách vị trí của bị cáo khoảng 20cm. Quá trình kiểm tra lược lượng công an đã thu giữ bao thuốc lá bị cáo thả xuống đường, bên trong bao thuốc có 01 (một) túi nilon màu trắng, chứa chất tinh thể màu trắng, bị cáo khai đó là ma túy đá. Ngoài ra công an còn thu giữ của bị cáo số tiền 275.000d (hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen cùng sim số bên trong; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead và 01 (một) ống thủy tinh dài khoảng 15 cm, một đầu thẳng, một đầu uốn cong (bút lục số 72- 82).

Bản cáo trạng số 106/CT-VKSUB ngày 26/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Trịnh Văn Đ từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau giám định, 01 (một) ống thủy tinh dài khoảng 15 cm, một đầu thẳng, một đầu uốn cong và 02 sim điện thoại số 0393 533 336 và 0365 619 897. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen. Trả lại bị cáo số tiền 275.000đ (hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Đi với anh Nguyễn Đức Th là người chở bị cáo, nhưng không biết bị cáo đi mua ma túy nên không đề cập xử lý.

Đi với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không làm rõ được để xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Văn Đ thừa nhận hành vi bị cáo đã thực hiện vào ngày 07/6/2019 như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến về thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 35, 36); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục số 30) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khẳng định việc truy tố đối với bị cáo là đúng; không oan sai.

Như vậy đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 07/6/2019, tại tổ 4, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Trịnh Văn Đ bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,322g (không phảy ba trăm hai mươi hai gam) ma túy, loại: Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Trịnh Văn Đ đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp tàng trữ Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước ta. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích để phục vụ cho việc sử dụng chất ma túy của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung;

đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về vật chứng:

Chiếc xe mô tô Honda Lead màu đỏ, BKS 14Y1-104.10, quá trình điều tra xác minh không liên quan đến hành vi phạm tội; cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Đức Thông, nên không đề cập xem xét.

Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 02 (hai) sim điện thoại số: số 0393 533 336 và 0365 619 897 không còn giá trị sử dụng; các vật chứng trên cần tịch thu tiêu hủy. 01 (một) ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 15cm, một đầu thẳng, một đầu uốn cong, thuộc sở hữu của anh Nguyễn Đức Thành; quan điểm của anh Th là không còn giá trị sử dụng, anh không nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Số tiền 275.000đ (hai trăm bảy lăm nghìn đồng) là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đi với anh Nguyễn Đức Th là người chở bị cáo, nưng không biết bị cáo đi mua ma túy nên không đề cập xử lý.

Đi với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không làm rõ được để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt: 07/6/2019.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 428/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh; 02 (hai) sim điện thoại số: số 0393 533 336 và 0365 619 897; 01 (một) ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 15cm, một đầu thẳng, một đầu uốn cong.

Trả lại bị cáo số tiền 275.000đ (hai trăm bảy lăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen.

(Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh)

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo Trịnh Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào khoản 1; 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 108/2019/HS-ST ngày 02/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:108/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 02/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về