Bản án 104/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về ly hôn, con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 104/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ LY HÔN, CON CHUNG

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 130/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019 về việc ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Kiều D, sinh năm 1990; cư trú tại: Ấp TH, xã NH, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Trương Cà M, sinh năm 1988; cư trú tại: : Ấp TH, xã NH, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Trịnh Kiều D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trương Cà M tổ chức đám cưới năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện ĐD. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng thời gian về sau vợ chồng xãy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cải nhau do bất đồng quan điểm và anh M không quan tâm chăm sóc vợ, con. Mặc dù, gia đình và thân tộc hai bên cũng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân gần 10 tháng. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh M.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 người con chung tên Trương Nhất K, sinh ngày 12/11/2010 hiện đang sống với anh M và cháu Trương Bảo T, sinh ngày 24/11/2015 hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị và anh M thỏa thuận, chị được nuôi cháu T, còn cháu K thì anh M nuôi, vấn đề cấp dưỡng không đặt ra.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các vấn đề khác: Vợ chồng không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng.

Tại phiên tòa: Chị D yêu cầu được ly hôn với anh M; về con chung chị và anh M thỏa thuận, chị được nuôi cháu T, còn cháu K thì anh M nuôi, cấp dưỡng không đặt ra; về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, còn các vấn đề khác không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trịnh Kiều D khởi kiện yêu cầu giải quyết về ly hôn, con chung với anh Trương Cà M là vụ kiện tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh M, nhưng anh không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của chị D. Tại phiên tòa, anh M vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh M.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2009, chị D và anh M kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình tại Uỷ ban nhân dân xã TT. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh M được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị D xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tuy nhiên, anh M không có ý kiến đối với nguyên nhân mâu thuẫn do chị D trình bày. Như vậy, những nguyên nhân mâu thuẫn do chị D xác định thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định anh M không thật sự quan tâm hay tha thiết gì đến mối quan hệ hôn nhân với chị D, không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Mặt khác, tại phiên tòa chị D xác định vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, nhưng cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện nay chị không còn tình cảm đối với anh M, do đó chị không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với anh M.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị D và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D về quan hệ hôn nhân.

[5] Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị D xác định, sau khi ly hôn chị và anh M thỏa thuận, chị được nuôi cháu T, còn cháu K thì anh M nuôi, vấn đề cấp dưỡng không đặt ra. Tuy nhiên, anh M không có ý kiến đối với việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con mà chị D yêu cầu. Như vậy, anh M đã chấp nhận những yêu cầu cầu của chị D về con chung, cấp dưỡng nuôi con.

[6] Xết về tài sản chung và các vấn đề khác: Chị D không yêu cầu tòa án giải quyết về các mối quan hệ này, còn anh M thì không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Xét về án phí dân sự: Chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 92; Điều 5; Điều 91; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khon 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Kiều D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Kiều D được ly hôn với anh Trương Cà M.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Trương Bảo T, sinh ngày 24/11/2015 cho chị Trịnh Kiều D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trương Cà M không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Trương Cà M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

2.2. Giao cháu Trương Nhất K, sinh ngày 12/11/2010 cho anh Trương Cà M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trịnh Kiều D không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Trịnh Kiều D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự: Chị Trịnh Kiều D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009164 ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Trịnh Kiều D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 104/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về ly hôn, con chung

Số hiệu:104/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về