Bản án 10/2020/HSST ngày 30/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 10/2020/HSST NGÀY 30/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 11 năm 2020 mở phiên tòa công khai sơ thẩm tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 10/2020/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-HS ngày 18/11/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Tuấn A; Sinh năm: 1967 tại tỉnh Lai Châu; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản Mới, xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 8/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn M (đã chết) và bà Ngô Thị M1 (sinh năm 1936); Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1968) và có 01 con sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: xấu; Bản án số 14 ngày 08/4/1994 TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 12 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, Mua bán trái phép chất ma tuý. Bản án sơ thẩm số 02 ngày 14/10/2011 TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Bản án phúc thẩm số 241 ngày 21/12/2011 Toà án nhân dân tối cao y án sơ thẩm); chấp hành xong hình phạt ngày 05/7/2017 trở về địa phương. Bị bắt tạm giữ từ ngày 03/8/2020 cho đến ngày 12/8/2020 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chị Nguyễn Thị H sinh năm 1968 Trú tại: bản Mới, xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 03/8/2020 tổ công tác của Đội CSĐT tội phạm về Kinh tế và Ma tuý Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ 01, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu. Phát hiện tại ngã ba giao nhau giữa đường Lê Duẩn và đường Nguyễn Chí Thanh (thuộc tổ 01, phường Tân Phong) có một đối tượng nam giới ngồi trên xe máy nhãn hiệu HONDA SCOOPY màu xám, BKS 25AA-02236 bên lề đường có nhiều biểu hiện nghi vấn phạm tội. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, đối tượng khai tên là Phạm Tuấn A (sinh năm 1967, trú tại bản Mới, xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu) và thừa nhận đang tàng trữ trái phép chất ma tuý, đồng thời lấy từ túi quần bên trái giao nộp 01 gói nilon màu đen, bên trong là 04 gói được gói bằng 02 lớp (lớp bên ngoài là nilon màu đen, lớp bên trong là giấy màu trắng có in dòng kẻ màu xanh) bên trong là chất bột màu trắng, Tuấn A khai là heroine của mình, tổ công tác mời người chứng kiến, lập biên bản và đưa Tuấn A cùng vật chứng về trụ sở làm rõ.

Tại cơ quan điều tra Tuấn A khai nhận: Khoảng 14 giờ 20 ngày 03/8/2020 Tuấn A dùng điện thoại của mình (số thuê bao 0328923452) gọi cho Nguyễn Xuân Q (sinh năm 1966, trú tại bản Chin Chu Chải, xã San Thàng, thành phố Lai Châu) qua số điện thoại của Q 0352069857 hỏi mua 400.000VNĐ heroine, Q đồng ý và hẹn đến vòng xuyến San Thàng đợi (vòng xuyến đầu thành phố thuộc xã San Thàng). Tuấn A đi xe máy nhãn hiệu HONDA SCOOPY biển kiểm soát 25AA-02236 (xe của chị H) đi đến nơi hẹn, đến nơi Tuấn A thấy Q đã ở đó (Q đi xe máy, loại gì Tuấn A không để ý), gặp nhau Tuấn A đưa cho Q 400.000VNĐ (01 tờ 200.000VNĐ và 02 tờ 100.000VNĐ), Q đưa lại cho Tuấn A 01 gói heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen, do tin nhau nên Tuấn A không mở ra xem mà cho vào túi quần bên trái rồi ra về, Q đi đâu Tuấn A không rõ. Sau khi mua được heroine Tuấn A đi về tìm nơi sử dụng, khi đến ngã ba giao nhau giữa đường Lê Duẩn và đường Nguyễn Chí Thanh (thuộc tổ 01, phường Tân Phong) Tuấn A quan sát tìm chỗ sử dụng thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, Tuấn A đã tự giác lấy gói ma tuý được gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen, bên trong là 04 gói được gói ngoài bằng nilon màu đen, lớp bên trong là giấy màu trắng có in dòng kẻ màu xanh giao nộp cùng 01 ĐTDĐ OPPO A37FW màu hồng kèm sim số 0328923542; 01 xe máy HONDA SCOOPY màu xám BKS 25AA-02236 kèm đăng ký mang tên Nguyễn Thị H.

Căn cứ lời khai của Tuấn Anh, Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Xuân Q (trú tại bản Chin Chu Chải, xã San Thàng, thành phố Lai Châu). Tại cơ quan điều tra Q khai nhận có quen biết với Tuấn A (cả hai là bạn từ nhỏ), ngày 03/8/2020 Q ở nhà làm việc nhà và không đi đâu, không gặp ai, Tuấn A có gọi điện cho Q nhưng chỉ là gọi hỏi thăm nhau, điện thoại Q hay để linh tinh nên giờ không biết ở chỗ nào. Trong biên bản lấy lời khai và biên bản đối chất Q không thừa nhận gặp và bán ma tuý cho Tuấn A. Ngoài lời khai của Tuấn A không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Q.

Cùng ngày 03/8/2020 Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại, theo lời khai của Tuấn A, Tuấn A đã gọi điện cho Q số 0352069857 (lưu tên là Hiền Amt), thể hiện lúc 14 giờ 22 phút, thời lượng 22 giây (BL57). Ngày 17/8/2020 Cơ quan điều tra đã ra lệnh thu giữ điện tín; Kết quả không xác định được nội dung cuộc gọi vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Q.

Ngày 03/8/2020 Cơ quuan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân tịnh trọng lượng (BL51-52); Tang vật thu giữ của Tuấn A là 04 gói, sau khi loại bỏ lớp nilon màu đen và lớp giấy gói; Gói thứ nhất có khối lượng 0,07gam; Gói thứ hai có khối lượng 0,05gam; Gói thứ ba có khối lượng 0,07gam: Gói thứ tư có khối lượng 0,05gam; Tổng khối lượng 0,24gam. Hội đồng nhất trí gửi đi giám định toàn bộ không hoàn lại, gói thứ nhất 0,7gam ký hiệu M1; gói thứ hai 0,5gam ký hiệu M2; gói thứ ba 0,7gam ký hiệu M3; gói thứ tư 0,5gam ký hiệu M4. Còn lại 05 mảnh nilon màu đen và 04 mảnh giấy màu trắng có in dòng kẻ màu xanh được niêm phong trong phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

Ngày 14/8/2020 Cơ quan điều tra triệu tập chị Nguyễn Thị H, chị H khai nhận: Chiếc xe máy HONDA SCOOPY màu xám BKS 25AA-02236 là của chị, do chị dùng tiền tiết kiệm để mua, khi đi mua ma tuý anh Tuấn A sử dụng chị không biết. Đề nghị cơ quan điều tra xem xét trả lại cho chị. Trong đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/11/2020, chị Hoa đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe máy là tài sản hợp pháp của chị.

Kết luận giám định số 419/GĐ-KTHS ngày 06/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu (BL55) đã kết luận: 04 (bốn) mẫu chất bột màu trắng có tổng khối lượng là: 0,24gam. 04 (bốn) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3, M4) gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 55/CT-VKSTP ngày 19/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (BL125-128) đã truy tố Phạm Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo nghiện ma tuý nên vẫn cố tình thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Tuấn A đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47/Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106/BLTTHS. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù; khấu trừ thời hạn tạm giữ, thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án; Miễn hình phạt bổ sung; Vật chứng xử lý theo quy định; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: 14 giờ 30 phút ngày 03/8/2020 tại ngã ba giao nhau giữa đường Lê Duẩn và đường Nguyễn Chí Thanh (thuộc tổ 01, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu) Phạm Tuấn A đã có hành vi tàng trữ 0,24gam heroine. Mục đích tàng trữ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân, thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Điều 249/BLHS quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.

Bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên để sử dụng cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh trong quần chúng nhân dân.

[3] Nhân thân bị cáo: Được đi học hết lớp 8/10 rồi ở nhà lao động rồi xây dựng gia đình. Tiền án, tiền sự không; Có nhân thân xấu thể hiện ở việc trước đây bị Toà án xử phạt hai lần: Bản án số 14 ngày 08/4/1994 TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 12 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, Mua bán trái phép chất ma tuý và Bản án sơ thẩm số 02 ngày 14/10/2011 TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Bản án phúc thẩm số 241 ngày 21/12/2011 Toà án nhân dân tối cao y án sơ thẩm); Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu của cá nhân; Khi bị cơ quan điều tra yêu cầu kiểm tra bị cáo đã tự giác lấy gói ma tuý giao nộp; Bị cáo có bố là Phạm Văn M và mẹ là Ngô Thị M1 đều được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì vì đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cho gia đình.

[4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249/BLHS quy định: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tuy nhiên bị cáo nghiện, không có công việc ổn định, sống chung cùng gia đình, không có tài sản riêng mặt khác còn phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Vật chứng của vụ án: 0,24gam heroine đã gửi đi giám định toàn bộ không hoàn lại nên không xem xét.

Còn lại 05 mảnh nilon màu đen, 04 mảnh giấy màu trắng có in dòng kẻ màu xanh hết giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

01 ĐTDĐ OPPO A37FW màu hồng kèm sim số 0328923542; 01 xe máy HONDA SCOOPY màu xám BKS 25AA-02236 kèm đăng ký mang tên Nguyễn Thị Hoa. Không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

[6] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận.

[7] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47/BLHS; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 15 (mười lăm) tháng tù. Được khấu trừ 09 ngày tạm giữ, còn phải thi hành tiếp 14 tháng 21 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

[3] Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

[4] Tịch thu: 05 mảnh nilon màu đen, 04 mảnh giấy màu trắng có in dòng kẻ màu xanh để tiêu huỷ.

Trả lại bị cáo Phạm Tuấn A: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A37FW màu hồng kèm sim số 0328923542;

Trả lại chị Nguyễn Thị H: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA SCOOPY màu xám BKS 25AA-02236 kèm đăng ký mang tên Nguyễn Thị H.

Vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu. Tình trạng vật chứng như biên bản giao giữa Công an và Chi cục THA dân sự thành phố Lai Châu hồi 14 giờ 30 phút ngày 21/10/2020.

[5] Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhân được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2020/HSST ngày 30/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:10/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lai Châu - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về