Bản án 10/2019/DS-ST ngày 26/07/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 10/2019/DS-ST NGÀY 26/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

 Ngày 26.7.2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2019/TLST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Mỹ H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 03, thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

Bị đơn: Bà Mai Thị B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ 8,, thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 03.4.2019 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – bà Ngô Thị Mỹ H trình bày:

Trước đây, bà Mai Thị B có mượn của tôi số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu), bà B hứa trả dứt điểm cho tôi vào tháng 8/2017, nhưng đến nay bà B mới chỉ trả cho tôi 3.000.000đ. Nay tôi đề nghị Tòa án buộc bà Mai Thị B trả dứt điểm cho tôi số tiền còn lại là 52.000.000đ (Năm mươi hai triệu đồng), tôi không yêu cầu tính lãi suất.

* Tại bản tự khai ngày 05.6.2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay bị đơn - bà Mai Thị B trình bày:

Tôi xác nhận trước đây có mượn bà Ngô Thị Mỹ H số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng), tôi hẹn trả dứt điểm vào tháng 8/2017 nhưng do hoàn cảnh, điều kiện của tôi khó khăn, nợ nhiều người nên tôi mới chỉ trả được 3.000.000đ, số tiền còn lại là 52.000.000đ, tôi xin được trả dần, mỗi năm trả 20.000.000đ cho đến khi dứt điểm nợ.

* Tài liệu, chứng cứ của vụ án gồm: 01 Giấy mượn tiền (bản gốc); 02 CMND (bản sao); 01 sổ hộ khẩu (bản sao); Bản tự khai của nguyên đơn, bị đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và địa chỉ nơi cư trú của bị đơn thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

[2] Bà Ngô Thị Mỹ H và bà Mai Thị B có có quan hệ bạn bè nên bà Mai Thị B có mượn của bà Ngô Thị Mỹ H số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) và hẹn trả dứt điểm vào tháng 8/2017 nhưng mới chỉ trả được 3.000.000đ. Hiện tại bà Mai Thị B xác nhận còn nợ Ngô Thị Mỹ H số tiền 52.000.000đ và hẹn mỗi năm trả 20.000.000đ, nhưng bà H không đồng ý. Xét thấy, bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên việc bà H khởi kiện yêu cầu bà B thanh toán số tiền 52.000.000đ nợ gốc và không yêu cầu tính lãi là có cơ sở, đúng quy định pháp luật. HĐXX căn cứ các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự buộc bà Mai Thị B phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị Mỹ H số tiền 52.000.000đ (Năm mươi hai triệu đồng).

[3] Án phí dân sự sơ thẩm bà Mai Thị B phải chịu theo qui định của pháp luật là 52.000.000đ x 5% = 2.600.000đồng. (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 147, Điều 161, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Mỹ H đối với bà Mai Thị B về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Xử:

1. Buộc bà Mai Thị B phải trả cho bà Ngô Thị Mỹ H số tiền 52.000.000đồng (Năm mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm bà Mai Thị B phải chịu theo qui định của pháp luật là 2.600.000đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Hoàn trả cho bà Ngô Thị Mỹ H số tiền tạm ứng án phí 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 2245 ngày 02.5.2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà Vang.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, ngày 26.7.2019.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/DS-ST ngày 26/07/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:10/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoà Vang - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về