Bản án 10/2017/DS-ST ngày 14/06/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 10/2017/DS-ST NGÀY 14/06/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN 

Ngày 14 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2017/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2017/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí ô tô LA - Địa chỉ trụ sở: Số C6/3, TTH 21, phường TTH, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Dương Thị Huyền T - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: Ngã ba CD, khu phố ĐT, phường TĐH, thị xã DA, tỉnh Bình Dương (Giấy ủy quyền ngày 02 tháng 3 năm 2017). (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Trần Kha L - Sinh năm 1977 - Địa chỉ Ấp ML, xã MTT, huyện H, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 3 năm 2017 và các văn bản tiếp theo, nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí ô tô LA (Sau đây gọi tắt là Công ty LA) cùng bà Dương Thị Huyền T, đại diện hợp pháp cho nguyên đơn, trình bày và yêu cầu:

Ngày 27 tháng 02 năm 2016, Công ty LA, do ông Lê Huy Tuấn A đại diện theo pháp luật, ký hợp đồng số 160202, thỏa thuận bán cho bà Trần Kha L một xe ô tô tải hiệu Hino FG8JPSB 8.550Kg, giá tiền 1.310.000.000 đồng, thanh toán 3 đợt. Sau khi nhận xe, bà L đã thanh toán theo từng đợt. Tuy nhiên, tính đến ngày 28 tháng 02 năm 2017, bà L chỉ thanh toán được 1.280.000.000 đồng, còn nợ 30.000.000 đồng, bà L hẹn vài ngày sau thanh toán đủ, nhưng không thực hiện. Sau khi bị Công ty LA khởi kiện tại Tòa án, bà L đã thanh toán tiếp 20.000.000 đồng, còn nợ 10.000.000 đồng.

Công ty LA yêu cầu buộc bà L phải trả cho Công ty LA số tiền 10.000.000 đồng còn nợ.

Ngày 24 tháng 5 năm 2017, bà Dương Thị Huyền T, đại diện hợp pháp cho nguyên đơn, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là bà Trần Kha L được niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bà, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí ô tô LA khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” đối với bà Trần Kha L, Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 429, 430 và 440 Bộ luật Dân sự.

[2] Bà Dương Thị Huyền T đại diện hợp pháp cho nguyên đơn Công ty LA có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của Công ty LA theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

[3] Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn là bà Trần Kha L được niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bà, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của Công ty LA theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bà L không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa vì bà không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà theo quy định pháp luật.

[4] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

[5] Xét yêu cầu của Công ty LA về việc buộc bà L trả cho Công ty LA 10.000.000 đồng là có căn cứ, vì phù hợp với hợp đồng số 160202 ngày 27 tháng 02 năm 2016 ký kết giữa đại diện theo pháp luật của Công ty LA (Ông Lê Huy MTuấn A) với bà L, các chứng từ hóa đơn do Công ty LA cung cấp. Bà L không có ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ, từ chối lấy lời khai, nên không có căn cứ xem xét ý kiến của bà L, chấp nhận trình bày của Công ty LA là phù hợp.

Cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 trong việc tính lãi đối với các số tiền chậm thi hành án.

[6] Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Án, xét thấy: Bà L có nghĩa vụ trả cho Công ty LA 10.000.000 đồng nên phải chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Công ty LA không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Công ty LA 750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 429, 430, 440, 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Án.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” của Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí ô tô LA đối với bà Trần Kha L.

Buộc bà Trần Kha L phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí ô tô LA 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền (Phải trả cho người được thi hành án), hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Về án phí:

Buộc bà Trần Kha L phải chịu 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí ô tô LA 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (Theo biên lai thu số 0007822 ngày 13/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H).

4. Các đương sự vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2017/DS-ST ngày 14/06/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:10/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Hưng - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/06/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về