Bản án 08/2018/HS-ST ngày 10/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 08/2018/HS-ST NGÀY 10/05/201 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2018/TLST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo: Văn Xuân H, sinh năm 1979, tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;

Nơi cư trú: nhà số ..., ấp VH, xã VT, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn H và bà Trần Thị N; tiền án: ngày 02/8/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tuyên phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;  ngày 26/4/2001 bị Tòa án nhân dân huyện Bình

Chánh, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 13/5/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tuyên phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 31/12/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh BếnTre tuyên phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 03/4/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: không có;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/01/2018 cho đến nay; (bị cáo có mặt tại phiên toà).

Người bị hại:

1. Anh Phạm Hoàng C, sinh năm 1984 (vắng mặt tại phiên tòa).

2. Chị Lê Thủy T, sinh năm 1989 (vắng mặt tại phiên tòa).

Cùng địa chỉ: ấp MP, xã MB, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Người làm chứng:

1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1951 (có mặt tại phiên tòa).

2. Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1979 (vắng mặt tại phiên tòa).

Cùng địa chỉ: ấp MP, xã MB, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

3. Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1984 (vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: ấp ML, xã MB, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian từ 01 giờ 00 phút đến 02 giờ 00 phút ngày 20/12/2017, bị cáo Văn Xuân H điều khiển chiếc võ lãi (loại Composite) chạy máy xăng (hiệu LiFan) đi ngang qua nhà kho của anh Phạm Hoàng C (thuộc ấp MP, xã MB, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng), bị cáo thấy có nhiều bao lúa để trong nhà kho (có mở đèn sáng trong nhà kho) nhưng không có ai trông giữ. Bị cáo đã dùng khúc sắc dài 35cm cạy chốt khoen gài ổ khóa cửa nhà kho, bị cáo vào trộm được 05 bao lúa lần lượt vác xuống để trên võ lãi, sau đó bị cáo tiếp tục vào nhà kho để trộm lúa thì lúc này anh C và ông L (cha anh C) phát hiện có trộm nên đã truy hô, thì bị cáo từ trong nhà kho phóng ra bỏ chạy ra phía sau vườn nhà anh C rồi trốn thoát. Ngay sau đó anh Phạm Hoàng C đã đến Công an xã Mỹ Bình, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng để trình báo sự việc, tại hiện trường Công an đã thu giữ được các vật dụng của bị cáo bỏ lại trên võ lãi bao gồm: 01 cái áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 cái quầnsọt lửng màu xám, 01 đôi dép mũ màu xám; thu giữ được 01 cái nón kết có hình lá cờ Việt Nam và 01 cái đèn pin của bị cáo làm rớt lại tại vườn nhà anh C  khi bỏ chạy trốn.

Tại kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐG ngày 27/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Ngã Năm kết luận: 05 bao lúa có trọng lượng 250kg (loại giống lúa 7347) x 6.700đ/kg = 1.675.000 đồng.

Tại cáo trạng số 11/CT-VKS-KSĐT ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Văn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo H và đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Văn Xuân H trình bày: Bị cáo thừa nhận vào khoảng hơn 01 giờ 00 phút ngày 20/12/2017, bị cáo có trộm 05 bao lúa tại nhà kho của anh Phạm Hoàng C (thuộc khu vực ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Bình, thị xã Ngã Năm), khi bị phát hiện bị cáo đã bỏ chạy ra sau vườn nhà anh C, lội qua con mương, chạy ra ruộng trốn thoát. Bị cáo có bỏ lại hiện trường: 01 cái áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 cái quần sọt lửng màu xám, 01 đôi dép mũ màu xám để trên võ lãi; khi trốn chạy bị cáo có làm rớt lại vườn nhà anh C 01 cái nón kết có hình lá cờ Việt Nam và 01 cái đèn pin. Nay bị cáo thừa nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, đã biết lỗi và ăn năn với hành vi của mình, đồng thời chấp nhận mức hình phạt mà vị Kiểm sát viên đề nghị áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về thủ tục tố tụng:

[1] Người bị hại anh Phạm Hoàng C, chị Lê Thủy T và những người làm chứng anh Nguyễn Văn Ph, Đỗ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, những người nêu trên đều đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, việc vắng mặt của bị hại và người làm chứng không gây cản trở cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTHS), tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

Xét về nội dung vụ án:[2]. Tại phiên toà, bị cáo Văn Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 05 (năm) bao lúa tại nhà kho của anh Phạm Hoàng C (thuộc khu vực ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Bình, thị xã Ngã Năm), vào khoảng thời gian từ 01 giờ 00 phút đến 02 giờ 00 phút ngày 20/12/2017. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại anh Phạm Hoàng C, người làm chứng ông Phạm Văn L, biên bản khám nghiệm hiện trường, các tang vật được thu giữ tại hiện trường như: 01 cái áo sơ mi dài tay màu xanh, 01 cái quần sọt lửng màu xám, 01 đôi dép mũ màu xám; 01 cái nón kết có hình lá cờ Việt Nam và 01 cái đèn pin; bị cáo thừa nhận toàn bộ các tang vật nêu trên là của bị cáo bỏ lại khi trốn chạy.

Tổng giá trị tài sản bị cáo H trộm cắp chiếm đoạt của anh C và chị Tiên là 1.675.000 đồng (một triệu, sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) và bị cáo đã có tiềnán về tội trộm cắp tài sản đến nay vẫn chưa được xóa án tích, theo bản án ngày số 05/2015/HS-ST ngày 03/4/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh SócTrăng tuyên phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/5/2017 theo văn bản xác nhận của Giám thị trại giam Cái Tàu số43/XN-CHA ngày 16/4/2018. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi bất chính mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp nhưng vẫn không sửa đổi trở thành người công dân tốt. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để răn đe và tiếp tục giao duc cải tạo bị cáo, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cần phải xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (toàn bộ tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi giao trả lại cho bị hại); Đây là các tính tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 cần phải xem xét áp dụng cho bị cáo. Đồng thời bị cáo không có tính tiết tăng nặng.

Đối với lời khai của bị cáo Văn Xuân H về việc trộm cắp chiếc võ lãi (loại Composite) có máy xăng (hiệu LiFan) tại khu vực phường 3, thị xã Ngã Năm, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh chủ sở hữu và chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo H, khi có đủ căn cứ sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh C và chị Tiên đã nhận lại 05 bao lúa và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về xử lý vật chứng là: tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng như: một cây sắt dài 35cm, một cây kìm bằng kim loại có dòng chữ VINATOOL; một cây dao thái lan cán vàng; một cái khăn màu vàng, một cái áo sơ mi dài tay màu xanh; một cái quần sọt lửng màu xám; một đôi dép mũ màu xám; một cái đèn pin và một cái nón kết có hình lá cờ Việt Nam.

Đối với chiếc võ lãi (loại Composite) và máy xăng (hiệu LiFan) tiếp tục tạm giữ để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra đối với hành vi trộm cắp các tài sản này của bị cáo Văn Xuân H trong vụ án khác.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Văn Xuân H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[6] Về phân tích tính hợp pháp các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 35 và Điều 37 của BLTTHS; đã chứng minh đầy đủ các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 của BLTTHS; tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại Điều 65 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố: Bị cáo Văn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Văn Xuân H 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 24 tháng 01 năm 2018.

2/ Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã không còn giá trị sử dụng như: một cây sắt dài 35cm, một cây kìm bằng kim loại có dòng chữ VINATOOL; một cây dao thái lan cán vàng; một cái khăn màu vàng, một cái áo sơ mi dài tay màu xanh; một cái quần sọt lửng màu xám; một đôi dép mũ màu xám; một cái đèn pin và một cái nón kết có hình lá cờ Việt Nam.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Phạm Hoàng C và chị Lê Thủy T không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/ Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bịcáo Văn Xuân H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng đối với các bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạnkháng cáo nêu trên  được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

265
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2018/HS-ST ngày 10/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:08/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ngã Năm - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về