Bản án 08/2017/KDTM-ST ngày 14/09/2017 về tranh chấp hợp đồng xây dựng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 08/2017/KDTM-ST NGÀY 14/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

Ngày 14/9/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2017/TLST-KDTM ngày 15 tháng 6 năm 2017 về “Tranh ch p hợp đồng xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2017/QĐST-KDTM ngày 29/8/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V

Địa chỉ: Số 5/45, Phan Đình Phùng, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện t eo p áp luật: Ông Nguyễn Xuân B – Chức vụ: Giám đốc.

2. Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên công nghiệp tàu thủy C Địa chỉ: Khu 5 tầng, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện t eo ủy quyền: Ông Đào Việt P - Chức vụ: Phó tổng giám đốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung và lời khai của nguyên đơn là Công ty cổ phần tư vấn xây dựng trình bày:

Từ ngày 20/7/2005 đến ngày 11/3/2007, giữa Công ty cổ phần tư v n xây dựng V với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên công nghiệp tàu thủy C (Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C) đã ký kết 03 hợp đồng thi công xây dựng gồm:

Ngày 20/7/2005, ký kết hợp đồng số 016A/HĐTC có nội dung Công ty cổ phần tư v n xây dựng V thực hiện thi công hệ thống c p thoát nước, đường nội bộ, đường bao thuộc dự án xây dựng hạ tầng cơ sở cụm công nghiệp tàu thủy C với tổng giá trị hợp đồng 63.972.264.000đ, khi công việc được nghiệm thu, bàn giao thì Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C có trách nhiệm thanh toán 95% giá trị quyết toán.

Ngày 04/01/2007, ký kết hợp đồng số 05 – 1/HĐKT/2007 có nội dung Công ty cổ phần tư v n xây dựng V thiết kế KTTC, lập dự toán hạng mục đường công vụ và bãi vật tư thiết bị thuộc dự án san lấp giai đoạn 1 khu kinh tế H với giá hợp đồng tạm tính 322.556.000đviệc thanh toán được thực hiện sau khi ký hợp đồng thanh toán 30%, sau khi bàn giao thiết kế, dự toán là 30% giá trị hợp đồng và thanh toán dứt điểm sau khi có quyết định phê duyệt của c p trên và Hợp đồng được thanh lý.

Ngày 11/3/2007, ký kết hợp đồng số 09/HĐKT/2007 có nội dung Công ty cổ phần tư v n xây dựng V thiết kế KTTC, lập dự toán công trình san lắp mặt bằng nhà máy đóng tàu và cảng khởi động thuộc dự án san l p giai đoạn 1Khu kinh tế H với giá hợp đồng tạm tính 1.921.920.000đ việc thanh toán được thực hiện sau khi ký hợp đồng thanh toán 30%, sau khi bàn giao thiết kế, dự toán là 30% giá trị hợp đồng và thanh toán dứt điểm sau khi có quyết định phê duyệt của c p trên và Hợp đồng được thanh lý.

Sau khi ký hợp đồng, Công ty cổ phần tư v n xây dựng V đã thực hiện các công việc theo thỏa thuận của hai bên và giữa Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V với Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C đã nghiệm thu và quyết toán thanh lý các hợp đồng trên: Ngày 3/2/2016 hai bên đã quyết toán hợp đồng thi công số 16A và xác nhận Công ty TNHH Một thành viên công nghiệp tàu thủy C còn phải thanh toán 33.615.857.000đ; Ngày 8/8/2016 hai bên quyết toán và thanh lý hợp đồng số 05 số tiền Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C còn nợ 46.766.800đ và Hợp đồng số 09 Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C còn phải thanh toán 576.576.000đ. Tổng số tiền Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C chưa thanh toán cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V của 03 hợp đồng là 34.239.200.000đ.

Sau khi các bên quyết toán các hợp đồng trên thì Công ty cổ phần tư v n xây dựng V đã có yêu cầu Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng không có kết quả nên đã khởi kiện với các yêu cầu sau:

Buộc Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải thanh toán cho Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V số tiền của 03 hợp đồng chưa được thanh toán là 34.239.200.000đ.

Buộc Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải thanh toán tiền lãi của số tiền chậm thanh toán tại hợp đồng số 16A cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V từ ngày 3/2/2016 đến nay là 19 tháng 11 ngày là 9.724.717.000đ (33.615.857.000 x 11,95% x 150%/12 x 19 tháng = 9.540.600.000đ và 33.615.857.000 x 11,95% x 150%/30 x 11 ngày = 184.117.000đ).

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V cung cấp chứng cứ gồm Hợp đồng số 016A/HĐTC ngày 20/7/2005, Hợp đồng số 09/HĐKT/2007 ngày 11/3/2007 và Hợp đồng số 05 - 1/HĐKT/2007 ngày 4/01/2007, Biên bản nghiệm thu ngày 18/9/2007 và ngày 27/11/2007, Biên bản xác định khối lượng hoàn thành ngày 31/12/2016, Biên bản quyết toán hợp đồng số 16A ngày 3/2/2016, Công căn số 170/TCKT ngày 28/6/2013, số 349/TCKT ngày 18/12/2014 và số 105/TCKT ngày 9/3/2017 về yêu cầu thanh toán nợ của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V, Công văn số 92,/CV – CTCL ngày 17/5/2017 của Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C về việc thanh toán nợ các hợp đồng, Thông báo số tài khoản và thông báo mức cấp mới hạn mức tin dụng nguyên tắc đối với khách hàng.

Bị đơn là Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C trình bày về việc ký kết và thực hiện các hợp đồng nêu trên là đúng và xác nhận hiện nay Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C còn nợ chưa thánh toán cho Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V số tiền của 03 hợp đồng là 34.239.200.000đ. Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C đồng ý trả cho Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V số nợ gốc 34.239.200.000đ còn đối yêu cầu cầu tính tiền lãi thì không đồng ý tính lãi vì trong các hợp đồng hai bên không thỏa thuận lãi và Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C hiện nay đang gặp khó khăn nên không có điều kiện thanh toán.

Tại phiên tòa trong phần thủ tục hỏi các đương sự thỏa thuận với nhau Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải trả cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V số tiền cả gốc và lãi là 39.059.200.000đ

- Đại diện iện kiểm sát nhân dân thàn phố H, tỉnh Quảng Ninh có quan điểm: về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng quy định, về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Công ty cổ phần tư v n xây dựng V với Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C đều là những doanh nghiệp có đầy đủ tư cách pháp nhân và đăng ký kinh doanh nên việc ký kết hợp đồng của hai bên có giá trị pháp lý đối với các bên tham gia hợp đồng.

- Khi ký kết các hợp đồng đều vào năm 2005 và 2007 nhưng khi các bên quyết toàn và chốt nợ cuối cùng đều vào năm 2016 (Ngày 03/2/2016, hai bên đã quyết toán hợp đồng thi công số 16A và xác nhận Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C còn phải thanh toán 33.615.857.000đ; Ngày 8/8/2016, hai bên quyết toán và thanh lý hợp đồng số 05 số tiền Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C còn nợ 46.766.800đ và Hợp đồng số 09 Công ty TNHH Một thành viên công nghiệp tàu thủy C còn phải thanh toán 576.576.000đ) nhưng Công ty TNHH Một thành viên công nghiệp tàu thủy C vi phạm không thực hiện thanh toán nên Công ty cổ phần tư v n xây dựng V là đúng pháp luật và còn trong thời hiệu.

Tại phiên tòa, Công ty cổ phần tư v n xây dựng V với Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C đã thỏa thuận Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải thanh toán cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V số tiền gốc và lãi 39.059.200.000đ. Xét th y, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên được ghi nhận theo quy định.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V số tiền chậm thanh toán 39.059.200.000đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và trả lại cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V tiền tạm ứng án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 81 Luật xây dựng; Điều 42 Nghị định 48/NĐ - CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ về Hợp đồng xây dựng; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tuyên xử:

- Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Công ty cổ phần tư vấn xây dựng V với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên công nghiệp tàu thủy C.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải trả cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V số tiền 39.059.200.000đ (Ba mươi chín tỷ năm mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành không thanh toán thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án (Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (LTHADS) người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,8 LTHADS. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 LTHADS.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên công nghiệp tàu thủy C phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 147.059.200đ (Một trăm bốn mươi bảy triệu không trăm năm mươi chín nghìn hai trăm đồng) Trả lại cho Công ty cổ phần tư v n xây dựng V tiền tạm ứng án phí là 76.496.000đ (Bảy mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001111 ngày 15/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

* Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


163
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về