Bản án 07/2021/HNGĐ-ST ngày 14/01/2021 về ly hôn giữa ông Ng và bà H

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 07/2021/HNGĐ-ST NGÀY 14/01/2021 VỀ LY HÔN GIỮA ÔNG NG VÀ BÀ H 

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quý Ng, sinh năm 1953; Hộ khẩu thường trú: Số 17 ngách 31 ngõ 35 C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: Số 35, ngõ 245 tổ 26, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn:Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; Địa chỉ: Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

(Ông Ng vắng mặt có lý do; bà H vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 01-12-2020 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Quý Ng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:Ông Nguyễn Quý Ng và bà Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn ngày 28-12-2017 tại Ủy ban nhân dân phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà riêng của ông Ng ở Hà Nội. Vợ chồng chung sống hòa thuận được gần một năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà H đã nói dối ông Ng là bà có thai và bà H phải vào bệnh viện nằm dưỡng thai. Ông Ng đã tin tưởng bà H nên không nghi ngờ gì. Đến gần ngày bà H nói sắp sinh con thì ông Ng và gia đình mới phát hiện bà H mang thai giả. Sau khi bị ông Ng phát hiện, bà Huệ khiếp sợ nên đã bỏ đi làm ăn nơi khác từ tháng 9-2018, hai bên kể từ đó không liên lạc gì với nhau, vợ chồng sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm đối với nhau từ đó cho đến nay. Nay ông Ng nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn bà H.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, hiện nay bà H không có thai nghén nên ông Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Nguyễn Thị H nhận: Thông báo thụ lý vụ án số 322/TB-TLVA ngày 01 tháng 12 năm 2020, bản sao đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Ng, bản sao các tài liệu, chứng cứ mà ông Ng đã nộp; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Như vậy, bà H đã biết được quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đến nay, bà H vẫn vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Ng.

Tại phiên tòa, ông Ng xin vắng mặt giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, bà H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị H là bị đơn được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà H vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do; ông Nguyễn Quý Ng có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Ng, bà H là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Quý Ng và bà Nguyễn Thị H là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân phường C, quận Đ thành phố Hà Nội đăng ký kết hôn ngày 28-12-2017. Sau khi kết hôn ông Ng và bà Hchung sống với nhau tại nhà riêng của ông Ng tại Hà Nội được gần một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Lý do là bà H có sự lừa dối ông Ng về việc có thai con chung với ông Ng, sau khi bị phát hiện sự thật, bà H đã bỏ đi làm ăn nơi khác không liên lạc gì với ông Ng, vợ chồng sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ tháng 9- 2018 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, bà H đã biết việc ông Ng xin ly hôn nhưng không đến Tòa án làm việc, không liên lạc với ông Ng, chứng tỏ bản thân bà H cũng không còn nguyện vọng chung sống với ông Ng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ng đối với bà H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung:Ông Ng xác nhận vợ chồng không có con chung, hiện bà Huệ không có thai nghén, ông Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[4]Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản:Ông Ng, bà Hkhông có tài sản chung, không vay nợ chung, ông Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5]Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Quý Ng thuộc đối tượng người cao tuổi có đơn xin miễn nộp án phí nên không phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứkhoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Quý Ng và bà Nguyễn Thị H.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 củaUỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;ông Nguyễn Quý Ngkhông phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST ngày 14/01/2021 về ly hôn giữa ông Ng và bà H

Số hiệu:07/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hải Hậu - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về