Bản án 141/2019/HNGĐ-ST ngày 30/07/2019 về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 141/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/07/2019 VỀ LY HÔN, NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2019/TLST-HNGĐ, ngày 14/6/2019 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Xóm 11, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

- Bị đơn: Anh Vũ Ngọc S, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Xóm 11, xã Xu, huyện X, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2019, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Ngọc S tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định cấp đăng ký kết hôn vào ngày 18/5/2011. Trong cuộc sống vợ chồng hay xảy ra xô xát, nguyên nhân do tính tình, lối sống không hòa hợp, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm. Từ tháng 6 năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng của chị là được xin ly hôn anh Vũ Ngọc S.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Vũ Hương G, sinh ngày 13/01/2012 và Vũ Diệu H, sinh ngày 11/5/2014; hiện con G đang ở với anh Sang, còn con H đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin nhận nuôi con H, còn để anh Sang nuôi con G, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, hiện chị đang làm nghề tự do ở trên Hà Nội mức thu nhập bình quân khoảng 7 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại bản tự khai ngày 05 tháng 7 năm 2019, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Vũ Ngọc S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về việc kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng như chị Hoa trình bày là đúng. Vợ chồng mâu thuẫn do tính tình, lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong kinh tế gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình đã động viên khuyên giải để nhằm hàn gắn hạnh phúc vợ chồng xong không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ tháng 6 năm 2018 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc đã tan vỡ, chị H xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị H trình bày là đúng, khi ly hôn anh xin nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung, hiện anh đang làm ở Công ty xe Thân Thiện - Hà Nội mức thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Kết quả xác minh thu thập chứng cứ tại UBND xã X: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Ngọc S tự nguyện đến với nhau có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã X; diễn biến cuộc sống chung của vợ chồng như chị H và anh S trình bày là đúng; về con chung, tài sản như chị H, anh Strình bày là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Ngọc S. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Vũ Hương G, sinh ngày 13/01/2012 và Vũ Diệu H, sinh ngày 11/5/2014; hiện con G đang ở với anh S, còn con H đang ở với chị H. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình đề nghị Hội đồng xét xử xử giao cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Diệu H, giao cho anh Sang trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hương G, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm con nom chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Ngọc S là hợp pháp, được xác lập từ ngày 18/5/2011. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong kinh tế gia đình, không có tiếng nói chung. Từ tháng 6 năm 2018 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai, chị H xin ly hôn anh S nhất trí. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh S là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nay chị H xin ly hôn anh Sang hoàn toàn nhất trí. Căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Ngọc S.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Ngọc S có 2 con chung là Vũ Hương G, sinh ngày 13/01/2012 và Vũ Diệu H, sinh ngày 11/5/2014; hiện con G đang ở với anh S, còn con H đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H xin nhận nuôi con H, còn để anh S nuôi con G, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn anh S xin nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, anh S xin nhận nuôi cả hai con khi ly hôn là không phù hợp, bởi lẽ căn cứ vào điều kiện kinh tế và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, trong khi đó cháu Vũ Diệu H còn nhỏ cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ hơn, quan điểm của chị H là xin được nhận nuôi con H. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Vũ Diệu H, còn giao cho anh Sang tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Vũ Hương G, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với thực tế cũng như theo quy định tại Điều 81, 82. 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét điều chỉnh.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:Điều 55; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Ngọc S.

2. Về nuôi dưỡng con chung chưa thành niên: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Vũ Diệu H, sinh ngày 11/5/2014. Giao cho anh Vũ Ngọc S tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Vũ Hương G, sinh ngày 13/01/2012; hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau do mình không trực tiếp nuôi dưỡng và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001550 ngày 14/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


86
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 141/2019/HNGĐ-ST ngày 30/07/2019 về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:141/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuân Trường - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về