Bản án 07/2019/DSST ngày 21/11/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KÔNG CHRO, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 07/2019/DSST NGÀY 21/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2019/TLST-DS ngày 12/4/2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2019/QĐDS-ST ngày 05/11/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ: 02 L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người được ủy quyền khởi kiện và tham gia tố tụng: Ông Hoàng Văn L, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K.

(Theo Quyết định về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ t tụng và thi hành án s 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19/6/2014 của Ngân hàng N).

Ông Hoàng Văn L ủy quyền lại cho bà Đoàn Thị Như H, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện K. Bà H có mặt.

(Theo Giấy ủy quyền lại s 02/2019/NHNoKCR-UQ ngày 17/4/2019 của Ngân hàng N- Chi nhánh huyện K).

2. Bị đơn: Ông Bàn Hữu Kh, sinh năm 1978.

Địa chỉ: làng Y, xã Ya, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Triệu Thị D, sinh năm 1973.

Địa chỉ: làng Y, xã Ya, huyện K, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2019 và ý kiến tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng N với ông Bàn Hữu Kh ký kết hợp đồng tín dụng số 131119.07/HĐTD ngày 26/11/2013 và tại giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn nhu cầu đời sống ngày 26/11/2013 cũng như giấy ủy quyền của bà Triệu Thị D ủy quyền cho chồng mình là ông Bàn Hữu Kh là đại diện đứng ra ký kết hợp đồng tín dụng để vay vốn, theo đó Ngân hàng N cho ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D vay số tiền 50.000.000 đồng, với lãi suất vay 12%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 26/11/2013 đến ngày 26/11/2014; phương thức trả lãi 06 tháng/kỳ. Đã đến phân kỳ trả nợ gốc và lãi nhưng ông Kh và bà D không thực hiện các cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nay Ngân hàng N đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Kh và bà D phải trả nợ số tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết số nợ gốc.

Tại biên bản xác minh đề ngày 19/4/2019, Công an xã Ya xác định: Ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn H (nay là làng Y), xã Ya, huyện K. Ông Kh và bà D sau khi được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; các lần triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng ông Khuyên và bà Diễm không có mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kông Chro phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành các quy định của luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng N, buộc ông Kh và bà D phải trả cho Ngân hàng N số nợ gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 48.466.667 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bị đơn ông Bàn Hữu Kh và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Triệu Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Kh và bà D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngân hàng N ủy quyền cho Chi nhánh huyện K khởi kiện bị đơn ông Bàn Hữu Kh và xác định bà Triệu Thị D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để yêu cầu ông Kh và bà D trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số 131119.07/HĐTD ngày 26/11/2013. Do vậy đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tranh chấp hợp đồng tín dụng:

Ngân hàng N với ông Bàn Hữu Kh ký hợp đồng tín dụng số 131119.07/HĐTD ngày 26/11/2013. Tại hợp đồng này, chỉ một mình ông Bàn Hữu Kh đứng ra ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng, tuy nhiên tại giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn ngày 26/11/2013 cũng như tại Giấy ủy quyền ngày 26/11/2013 thì giữa ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D cam kết vay vốn của Ngân hàng N với số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất vay là 12%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay. Thời hạn vay là 12 tháng, kể từ ngày 26/11/2013 đến ngày 26/11/2014; phân kỳ trả lãi 06 tháng/kỳ.

Như vậy, việc các bên ký hợp đồng hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của các hợp đồng đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật dân sự và các Điều 91 và 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Ngay sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Kh và bà D với số tiền 50.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, đã đến hạn trả gốc và lãi nhưng bên vay không trả là vi phạm vào điểm b khoản 6.1 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng số 131119. 07/HĐTD ngày 26/11/2013 mà các bên đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng N yêu cầu ông Kh và bà D phải liên đới trả nợ gốc và lãi phát sinh là có căn cứ.

Về yêu cầu trả nợ lãi: Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi phù hợp với chính sách lãi suất của Ngân hàng trong từng thời kỳ, đúng theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đối chiếu bảng sao kê về lãi suất do nguyên đơn cung cấp thì tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/11/2019, ông Khuyên và bà Diễm còn nợ nguyên đơn số tiền lãi là 48.466.667 đồng như nguyên đơn trình bày là có cơ sở, nên cần chấp nhận.

Như vậy cần buộc ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D phải liên đới trả cho Ngân hàng N nợ gốc là 50.000.000 đồng; nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (21/11/2019) là 48.466.667 đồng.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ trả nợ là 98.466.667 đồng x 5% = 4.923.333 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 466 và 688 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D phải liên đới trả cho Ngân hàng N (thông qua Chi nhánh huyện K) 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nợ gốc và 48.466.667 đồng nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (21/11/2019). Tổng cộng là 98.466.667 đồng (Chín mươi tám triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (21/11/2019) ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sụ điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

- Buộc ông Bàn Hữu Kh và bà Triệu Thị D phải liên đới chịu 4.923.333 đồng (Bốn triệu chín trăm hai mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Kh và bà D chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N thông qua Chi nhánh huyện K 2.393.900 đồng (Hai triệu ba trăm chín mươi ba nghìn chín trăm đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0000130 ngày 12/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/DSST ngày 21/11/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:07/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Chro - Gia Lai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về