Bản án 07/2018/HSST ngày 29/08/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 07/2018/HSST NGÀY 29/08/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

1. Trần Quốc V ( tên gọi khác: Lỳ ), sinh ngày: 02/8/1988, tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn A, xã C, huyện Đ, Gia Lai; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, Gia Lai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần V, sinh năm1960 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1964; có vợ Phạm Thị H, sinh năm: 1988 và có 02 người con chung; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Xấu, sau khi phạm tội đã bổ trốnvà có lệnh truy nã, sau đó tiếp tục thực hiện hành vi cố ý gây thương tích và hành vi tàngtrữ vũ khí quân dụng; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2018 đến ngày 21/5/2018được bảo lãnh tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn H, sinh ngày: 22/6/1993, tại thị xã A, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn 5, xã T, thị xã A, Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1972 và bà Thái Thị B, sinh năm 1962; có vợ Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1997 và có 01 người con chung; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày10/7/2017 bị Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau; nhân thân: Xấu; bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2018 cho đến hiện nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Phạm Thanh T, sinh ngày: 23/4/1982; nơi cư trú: tổ 13, phườngT, thị xã A, Gia Lai. Có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1969;nơi cư trú: tổ 10, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Bá V, sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ 13, phường A, thị xã A, tỉnh GiaLai. Vắng mặt tại phiên tòa.

Chị Dương Thị Diệu H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ 1, phường A, thị xã A, tỉnhGia Lai. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 27/12/2017, Trần Quốc V điều khiển xe mô tô chởNguyễn Văn H cùng với 01 đối tượng tên Cu em đi từ nhà V đến nhà anh Phạm Thanh T để hỏi việc mua bán gỗ giữa V và T nhưng không có T ở nhà. Sau khi về nhà, V nói với H “Anh mua tấm phản gỗ của thằng T, đã đưa tiền rồi mà nó không đưa bộ phản, nó bán cho người khác, nay mai gặp nó đánh nó cho anh”. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày T gọi điện thoại cho V để đến nhà V nói chuyện, lúc này V nảy sinh ý định đánh T nên đã nói với H “Nó lên đập nó cho anh”, thì H đồng ý. Khoảng 20 phút sau T đến nhà V, khi Tân vừa lên khỏi cầu thang tầng 2 thì bị H tay phải cầm 01 khúc cây gỗ kích thước (45x5,5x4cm) đánh vào lưng, vai của T, sau đó H tiếp tục cầm cây đánh theo hướng từ trên xuống vào người của T nên T đưa tay trái lên đỡ, dẫn đến T bị gãy tay trái, T bỏ chạy thì bị H cầm cây gỗ đánh tiếp 01 cái trúng vào lưng, T chạy vào buồng nói với V “Tụi bay có ngon thì đánh tao chết đi”, T vừa nói xong thì V đứng dậy dùng chân, tay đấm, đá nhiều cái vào người và mặt T, thấy T kêu đau thì V dừng đánh rồi nói với H “đập”, H đứng gần đó lao vào dùng chân đạp vào người T, thấy T ngã xuống đất thì V nói H dừng đánh.

Tại bản kết luận giám định pháp y số: 11/2018/PY-TgT ngày 19/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận thương tích của Phạm Thanh T: Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên hiện tại là 21%.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 27/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Quốc V và Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc V và Nguyễn VănH phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Trần Quốc V từ 24 đến 30 tháng tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 đến 30 tháng tù. Xử tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội “ Cố ý gây thương tích” của các bị cáo xảy ra tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Gia Lai nên về thẩm quyền khởi tố điều tra, truy tố và xét xử thuộc các cơquan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Gia Lai là đúng thẩm quyền. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Điều tra Viên, Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Xét hành vi của các bị cáo thì vào khoảng 20 giờ ngày 27/12/2017 tại nhà bị cáo V, bị cáo H cầm 01 khúc cây gỗ đánh vào lưng, vai của T, sau đó H tiếp tục cầm cây đánh theo hướng từ trên xuống vào người của T thì T đưa tay trái lên đỡ, dẫn đến Tbị gãy tay trái, khi T bỏ chạy  thì bị H cầm cây gỗ đánh tiếp 01 cái trúng vào lưng, Tchạy vào buồng nói với V “Tụi bay có ngon thì đánh tao chết đi”, T vừa nói xong thì bị V dùng chân, tay đấm, đá nhiều cái vào người và mặt T, thấy T kêu đau thì V dừng đánh rồi nói với H “đập”, H đứng gần đó lao vào dùng chân đạp vào người T, thấy T ngã xuống đất thì V nói H dừng đánh. Qua lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với mọi tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận giám định pháp y số: 11/2018/PY-TgT ngày 19/01/2018 củaTrung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận thương tích của Phạm Thanh T: Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên hiện tại là 21%.

Xét vai trò và tính chất của từng bị cáo trong vụ án này thấy rằng: Bị cáo V làngười khởi xướng, xúi dục cho bị cáo H cầm 01 khúc cây gỗ trực tiếp đánh người bị hại T gây thương tích, nên hành vi phạm tội của các bị cáo với vai trò đồng phạm được quy định tại Điều 17 của Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo chỉ mang tính đồng phạmđơn giản, trong quá trình thực hiện hành vi các bị cáo không có phân công vai trò cụ thể cho từng người, hành vi của các bị cáo chỉ mang tính bộc phát tức thời nên vai trò của từng bị cáo trong vụ án này là ngang nhau.

Các bị cáo đã thực hiện hành vi “cố ý gây thương tích” trước ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực, hành vi của bị cáo đã rơi vào tình tiết định khung tăng nặng, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999. Nhưng xét thấy tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định khung hình phạt nhẹ hơn so với bộ luật hình sự năm1999. Để có căn cứ áp dụng các tình tiết có lợi cho bị cáo nên căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt,giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi

điều luật đó có hiệu lực thi hành”. Từ những nhận định trên kết luận các bị cáo TrầnQuốc V và Nguyễn Văn H phạm tội “ Cố ý gây thương tích” được quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015.

 [3] Xét tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả gây ra cho xã hội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của anh T đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Để thể hiện tính hung hăng của mình, mặc dù trước đó giữa các bị cáo vàngười bị hại không có mâu thuẫn gì nhưng các bị cáo đã đánh người bị hại gây thương tích bất chấp hậu quả xảy ra mà đáng lẽ ra các bị cáo phải nhận thức được rằng sức khỏe của con người luôn được pháp luật bảo vệ, các bị cáo có ý thức coi thường pháp luật và cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để giáo dục các bị cáo thành người công dân có ích chogia đình và xã hội là điều cần thiết.

Về nhân thân của bị cáo V và H có nhân thân xấu. Bị cáo V sau khi phạm tội đã bổ trốn và có lệnh truy nã, sau đó tiếp tục thực hiện hành vi cố ý gây thương tích và hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng. Bị cáo H có 01 tiền sự ngày 10/7/2017 bị Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình điều tra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng đối với bị cáo V thêm tình tiết lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương và hiện tại bác sỹ chuẩn đoán bị cáo bị bệnh u máu gia đầu đang trong giai đoạn điều trị nên áp dụng các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét về căn cứ áp dụng pháp luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng cho các bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật và tương xứng với hành vi của từng bị cáo, nên Hộiđồng xét xử chấp nhận đề nghị về hình phạt để áp dụng xử phạt đối với các bị cáo.

Về căn cứ áp dụng pháp luật Viện kiểm sát đề nghị xử tịch thu tiêu hủy vật chứng là có cơ sở đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử, xử tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường, người bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về phần bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Vật chứng vụ án: Thu giữ của các bị cáo 01 khúc cây gỗ có đặc điểm(50x5,5x4cm) loại cây khô, cứng chắc. Xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Các bị cáo Trần Quốc V và Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3Điều 7; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự 2015.

Áp dụng Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc V và Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Xử phạt: Trần Quốc V 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Nhưng được trừ 27 (haimươi bảy) ngày tạm giữ, trạm giam trước đó. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 23 (hai mươi ba) tháng 03 (ba) ngày tù. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày có biên bản bắt bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngàybắt tạm giam là ngày 02/02/2018

[3] Xử tịch thu tiêu hủy các tang vật sau đây: 01 khúc cây gỗ có đặc điểm (45x5,5x4cm) loại cây khô, cứng ,chắc. Việc xử lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2018 giữa cơ quan Công an và cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

[4] Buộc các bị cáo Trần Quốc V và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6] Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ( 29/8/2018) các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi họ cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về