Bản án 06/2021/HNGĐ-ST ngày 29/01/2021 về tranh chấp ly hôn - không công nhận quan hệ vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ T

BẢN ÁN 06/2021/HNGĐ-ST NGÀY 29/01/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN - KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG

Trong ngày 29 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 369/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn – Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1973 (Có mặt). Địa chỉ: khu vực B, phường R, quận C, thành phố T.

Bị đơn: Phạm Thị Hồng T, sinh năm 1975 (Có mặt). Địa chỉ: khu vực H, phường T, quận C, thành phố T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/12/2020 và quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S trình bày:

Chúng tôi chung sống vào năm 1990, trên cơ sở tự nguyện nhưng không có kết hôn.

Chúng tôi sống hạnh phúc được gần 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn về kinh tế. Chúng tôi đã ly thân hơn 10 năm nay. Mỗi người đều có cuộc sống riêng. Vì vậy, tôi làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận C, thành phố T giải quyết cho tôi vấn đề sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho tôi được ly hôn với bà Phạm Thị Hồng T (Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi và bà Phạm Thị Hồng T).

+ Về con chung: có 02 con chung Nguyễn Thị Thu T (nữ), sinh ngày 06/8/1992; Nguyễn Thanh H (nam); sinh ngày 10/9/1997. Cháu T và H đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

Bò ñôn trình bày:

Tôi thống nhất với trình bày của chồng tôi về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Chúng tôi chung sống vào năm 1990 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sống hạnh phúc được hơn 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn về kinh tế. Chúng tôi đã ly thân gần 10 năm nay. Mỗi người đều có cuộc sống riêng.

Trước yêu cầu khởi kiện của chồng tôi. Tôi có ý kiến như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn với chồng tôi Nguyễn Thanh S (Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi và ông Nguyễn Thanh S).

+ Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu T (nữ), sinh ngày 06/8/1992; Nguyễn Thanh H (nam); sinh ngày 10/9/1997. Cháu T và H đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

Vụ án được hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về sự có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy mâu thuẫn giữa ông S và bà T đã thật sự nghiêm trọng, đời sống hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Thanh S và bà Phạm Thị Hồng T chung sống như vợ chồng vào năm 1990 nhưng không có đăng ký kết hôn, việc ông S và bà T chung sống là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống, ông S và bà T phát sinh mâu thuẫn, ông S có đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bà T nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của ông S, Hội đồng xét xử thấy rằng, ông bà tuy tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn nhưng hôn nhân của ông, bà được xác lập năm 1990 và cho đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó cần căn cứ quy định tại khoản 4 điều 3 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 để không công nhận quan hệ vợ chồng của ông, bà. Xét thấy, giữa ông, bà có thời gian chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm. Tuy nhiên, đến năm 2010 mâu thuẫn phát sinh, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cả hai đã ly thân từ đó đến nay đã hơn 10 năm. Hiện tại, cả hai không muốn duy trì mối quan hệ sống chung. Ngoài ra, tại phiên tòa thì bà T cũng đồng ý ly hôn với ông S, điều này chứng tỏ bà T cũng không tha thiết níu kéo mối hôn nhân này, do vậy ông S yêu cầu không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa ông với bà T là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nghĩ nên chấp nhận yêu cầu này của ông S, không công nhận mối quan hệ vợ chồng giữa ông với bà T.

[3] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu T (nữ), sinh ngày 06/8/1992; Nguyễn Thanh H (nam); sinh ngày 10/9/1997. Hiện tại T và H đã trưởng thành cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn khai không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đố i với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tu yên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S về không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Phạm Thị Hồng T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Nguyễn Thanh S và Phạm Thị Hồng T.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu T (nữ), sinh ngày 06/8/1992; Nguyễn Thanh H (nam); sinh ngày 10/9/1997. Hiện tại T và H đã trưởng thành cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh S phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông S đã nộp, theo biên lai thu số 006599 ngày 22/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận C, thành phố T thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm phải chịu. Ông S đã nộp xong án phí.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


29
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về