Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/02/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 22 tháng 02 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố M tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 811/2018/TLST-HNGĐ ngày 18/12/2018 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXX-ST ngày 24 /01/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 06 ngày 13/02/2019 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Lê Nguyễn Bảo T, sinh năm: 1994 (có mặt).

Địa chi: Ấp M, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Anh Phan Nguyễn Duy Q, sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Địa chi: 523A, đường ấp B, phường N, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Nguyễn Bảo T trình bày:

Chị và anh Q chung sống với nhau tháng 11 năm 2014, có đăng ký kết hôn năm 2015, tại UBND phường N, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2015, thì phát sinh mâu thuẫn do anh Q không lo làm ăn mà đi chơi suốt ngày, không lo cho vợ con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, vợ chồng sống ly thân tháng 9 năm 2015 cho đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Phan Nguyễn Duy Q.

- Con chung: Có 01 cháu Phan Ngọc Bảo N sinh ngày 28/8/2015, khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con .

- Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Q được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy của pháp luật, nhưng anh Q không đến tham gia phiên các phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán tuân thủ đúng quy định của pháp luật như tiến hành xác minh, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng đúng pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật, chị Ttham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật. Riêng anh Q không chấp hành quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tóm tắt và nhận định nội dung vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Nguyễn Bảo T; Con chung có 01 cháu Phan Ngọc Bảo N sinh ngày 28/8/2015 giao cho chị T trực tiếp nuôi; về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu;Tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp giữa chị Lê Nguyễn Bảo T và anh Phan Nguyễn Duy Q là tranh chấp “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

[2] Tại phiên tòa chị Lê Nguyễn Bảo T yêu cầu ly hôn với anh Phan Nguyễn Duy Q; Con chung Có 01 người Phan Ngọc Bảo N sinh ngày 28/8/2015, khi ly hôn chị T yêu cầu trực tiếp nuôi cháu N, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung không có.

[3] Tại phiên tòa anh Phan Nguyễn Duy Q đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Q không đến tham gia phiên tòa và cũng không cung cấp văn bày trình bày ý kiến để Hội đồng xét xử xem xét. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Nguyễn Duy Q.

Xét các yêu cầu của các đương sự:

[1] Về hôn nhân: Chị Lê Nguyễn Bảo T và anh Phan Nguyễn Duy Q chung sống với nhau năm 2014, có đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND phường N, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2015, thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Q không lo làm ăn mà ăn chơi không lo cho vợ con, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, chị T khuyên can nhưng không được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2015 cho đến nay. Xét thấy chị T và anh Q chung sống với nhau năm 2014 có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố M, tỉnh Tiền Giang năm 2015, anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2015, thì phát sinh mâu thuẫn do anh Q ăn chơi, không lo cho vợ con, từ đó anh chị thường xuyên cự cải nhau, chị T đã về bên cha mẹ ruột sống, anh Q không thường xuyên tới lui thăm vợ con. Tại phiên tòa chị T yêu cầu ly hôn với anh Q. Anh Q được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh Q không đến tham gia và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của anh Q để Hội đồng xét xử xem xét coi như anh Q từ bỏ ý kiến của mình. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa chị T với anh Q tình cảm đã rạn nức mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Chị T yêu cầu ly hôn với anh Q là có cơ sở và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Nguyễn Bảo T.

[2] Về con chung: Có 01 người Phan Ngọc Bảo N, sinh ngày 28/8/2015, khi ly hôn chị T yêu cầu trực tiếp nuôi cháu N. Xét thấy từ ngày chị T sinh cháu N, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng và lo cho cháu N, hơn nữa cháu N hiện nay còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Do đó yêu cầu của chị T yêu cầu trực tiếp nuôi cháu N là có cơ sở Hồi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T yêu cầu trực tiếp nuôi cháu N.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị Ttrực tiếp nuôi cháu N nhưng chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi cháu N nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án chị Lê Nguyễn BảoT phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56 ; Điều 58, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đỉnh.

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Nguyễn Bảo T. .

- Về hôn nhân: Chị Lê Nguyễn Bảo Tđược ly hôn với anh Phan Nguyễn Duy Q

- Về con chung: Giao cho chị Lê Nguyễn Bảo T trực tiếp nuôi cháu Phan Ngọc Bảo N sinh ngày 28/8/2015. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi cháu Ngân.

Anh Q có quyền đến trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

2/ Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chị Lê Nguyễn Bảo T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Chị T đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai số 0013508 ngày 18/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

3/ Chị Lê Nguyễn Bảo T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Phan Nguyễn Duy Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kê từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:06/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về