Bản án 05/2020/HS-ST ngày 15/01/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 05/2020/HS-ST NGÀY 15/01/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 01 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lữ Văn Ph. Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 20/10/1990 tại xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: bản N, xã HL, huyện NS, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hóa: Lớp 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Bảo Ph và bà Lữ Thị Bảo Ph; Vợ: Kha Thị May M, con: có 03 con lớn nhất sinh năm 2006 nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; bị bắt từ ngày 23/10/2019 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị Hồng. Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Kha Văn T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Bản XT, xã H L, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 20/10/2019 Lữ Văn Ph gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông tại bản N, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An 01 (một) cục heroin và 10 (mười) viên ma túy tổng hợp với số tiền 500.000 đồng . Mua được ma túy Lữ Văn Ph dùng bao potylen màu trắng gói lại rồi cất dấu vào túi quần và đi về lán trại (C5) của mình. Sau khi mua được ma túy các ngày 21, 22 và 23/10/2019 Lữ Văn Ph sử dụng hết 03 viên ma túy tổng hợp, đến khoảng 14 giờ ngày 23/10/2019 Ph lấy cục heroin ra trích một ít và chia thành 05 gói nhỏ, số còn lại cất dấu lại trong túi quần, sau đó lấy 01 gói heroin vừa trích chia ra và sử dụng hết. Đến khoảng 17 giờ ngày 23/10/2019 Lữ Văn Ph đang ở tại lán trại (C5) thuộc khu vực bản N, xã HL, huyện KS, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn phát hiện bắt quả tang.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 24/10/2019 đã xác định: Số chất màu trắng (nghi heroine) thu giữ của Lữ Văn Ph có khối lượng 0,65 (Không phẩy sáu mươi lăm) gam, ký hiệu là vật chứng số 01; 07 viên nén màu hồng (nghi là ma túy tổng hợp) thu giữ của Lữ Văn Ph có khối lượng 0,7 (không phẩy bảy) gam, ký hiệu là vật chứng số 02. Hội đồng đã tiến hành trích 0,05 (Không phẩy không năm) gam từ vật chứng số 1 (ký hiệu M1) và 0,1 (không phẩy một) gam từ vật chứng số 2 (ký hiệu M2) gửi đi giám định.

Tại kết luận giám định số 1373/KL- PC09(MT) ngày 26/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An đã kết luận: Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Lữ Văn Ph gửi tới giám định là ma túy (heroine); mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M2) thu giữ của Lữ Văn Ph gửi tới giám định là ma túy tổng hợp (Methamphetamine).

Cáo trạng số 06/CT-VKS-HS ngày 19/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã truy tố Lữ Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lữ Văn Ph đã khai nhận hành vi của mình với các tình tiết như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo Lữ Văn Ph thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lữ Văn Ph mức án từ 22 (Hai mươi hai) tháng đến 25 (Hai mươi lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định. Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa chứng minh được đầy đủ lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng đã thừa nhận hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi vi phạm của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ nên đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 23/10/2019, tại khu vực bản N, xã HL, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An bị cáo Lữ Văn Ph bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,65 (Không phẩy sáu mươi lăm) gam ma túy (heroine) và 0,7 (Không phẩy bảy) gam ma túy tổng hợp (methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng. Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Chương 2 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng của hai chất ma tuý (heroine, methamphetamine) thu giữ của Lữ Văn Ph là: 0,65g + 0,7g = 1,35g, như vậy tổng khối lượng của hai chất ma tuý đó của bị cáo tương đương khối lượng ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên trong trường hợp này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)……………………………………………………………………………………

c) Heroine, Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức ma túy là chất Nhà nước cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe con người và là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần tuyên phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Hình phạt bổ sung: Thấy rằng bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thu nhập chủ yếu từ nương rẫy nên miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo.

[5] Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lữ Văn Ph, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch và địa chỉ Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ được xử lý.

[6] Vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của Lữ Văn Ph, sau khi đã trích gửi đi giám định thì số còn lại là 0,6 (Không phẩy sáu) gam heroine và 0,6 (Không phẩy sáu) gam ma túy tổng hợp methamphetammine, đây là vật chứng mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lữ Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lữ Văn Ph 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 23/10/2019).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên bố: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư bưu điện được dán kín, ở mép dán có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và Lữ Văn Ph, bên trong chứa 0,6 (Không phẩy sáu) gam hêrôin và 0,6 (Không phẩy sáu) gam ma túy tổng hợp (Methamphetammine) thu giữ của bị cáo. Vật chứng đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 20/12/2019.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lữ Văn Ph phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên bố: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.


4
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HS-ST ngày 15/01/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:05/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kỳ Sơn - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 15/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về