Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 10/01/2019 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 04/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/01/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 10 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1008/2018/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 893/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Ánh L, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị Th, sinh năm 1961 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm X, phường S, Tp. C, tỉnh Cà Mau.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thu: Ông Nguyễn Thanh Đỉnh, là công dân Việt Nam (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Thị Tường A, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 23/11/2018 và tại phiên tòa, chị Đặng Ánh L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc T xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/05/2004. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến ngày 10/10/2018 phát sinh mâu thuẫn do chị qua nhà em chồng (em của anh T) không báo với anh T, từ đó anh chị xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn đối với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 17/4/2005, Nguyễn Quốc A, sinh ngày 17/3/2012. Hiện các cháu K và A đang sống chung với chị và anh T. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi cháu A, anh T nuôi cháu K. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị L xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định có nợ bà Phan Thị Th (mẹ ruột chị) số tiền 13.000.000đ; nợ bà Nguyễn Thị N số tiền 20.000.000đ. Khi ly hôn, chị L yêu cầu vợ chồng cùng có trách nhiệm trả, mỗi người trả một nữa số nợ.

- Tại bản tự khai và lời trình bày của bị đơn là anh Nguyễn Quốc T trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:

Về hôn nhân: Anh xác định về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn như chị L trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng trong chuyện tiền bạc, không thành thật đối với anh. Nay chị L xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 17/4/2005 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 17/3/2012. Hiện các cháu K và A đang sống chung với anh và chị L. Khi ly hôn, anh thống nhất chị L nuôi cháu A, anh nhận nuôi cháu K. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh xác định có nợ bà Nguyễn Thị N số tiền 20.000.000đ. Khi ly hôn, chị L yêu cầu vợ chồng cùng có trách nhiệm trả, mỗi người trả một nữa anh đồng ý, cụ thể anh nhận trả 10.000.000đ, chị L trả 10.000.000đ. Đối với nợ bà Phan Thị T (mẹ vợ anh) số tiền 13.000.000đ anh không biết nên không đồng ý trả.

- Bà Phan Thị T trình bày: Vào khoảng tháng 5/2018 âm lịch, bà có cho vợ chồng chị Đặng Ánh L và anh Nguyễn Quốc T mượn số tiền 13.000.000đ, không tính lãi, không làm giấy tờ. Nay vợ chồng L ly hôn, bà yêu cầu chị L và anh T mỗi người trả cho bà số tiền 6.500.000đ. Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

- Bà Nguyễn Thị N trình bày: Ngày 01/8/2017 âm lịch, bà có mở dây hụi, loại hụi 1.000.000đ/tháng. Vợ chồng chị Đặng Ánh L và anh Nguyễn Quốc T tham gia 02 chưng, chị L, anh T đã hốt hụi vào lần thứ mấy bà không nhớ, khi hốt được bao nhiêutiền bà không nhớ rõ. Sau khi hốt hụi, chị L và anh T đã đóng hụi đầy đủ đến ngày10/11/2018 âm lịch. Anh T và chị L còn phải đóng 10 kỳ, mỗi kỳ 2.000.000đ/02chưng. Trong dây hụi này bà xác định anh T và chị L còn nợ tổng số tiền 20.000.000đ. Nay anh T, chị L ly hôn, bà yêu cầu mỗi người có trách nhiệm trả cho bà số tiền 10.000.000đ. Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Th trình bày: Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa, mặc dù anh T không thừa nhận có nợ bà Th số tiền 13.000.000đ, nhưng khoản nợ của bà Th có trong thời kỳ chị L, anh T còn chung sống vợ chồng. Do có mối quan hệ là mẹ con nên không làm giấy tờ, biên nhận. Tại tòa chị L cũng thừa nhận khoản nợ này và chị L, anh T là vợ chồng. Vì vậy kiến nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Th, buộc anh T, chị L mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Th số tiền 6.500.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hôn nhân: Chị Đặng Ánh L và anh Nguyễn Quốc T xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/05/2004 nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến ngày 10/10/2018 phát sinh mâu thuẫn do chị qua nhà em chồng (em của anh T) không báo với anh T, từ đó anh chị xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn. Đối với anh T xác định mâu thuẫn vợ chồng là có do vợ chồng bất đồng trong chuyện tiền bạc, chị L không thành thật đối với anh. Nay chị L xin ly hôn anh đồng ý. Xét thấy đời sống hôn nhân của anh, chị đã thực sự không còn, cả hai anh chị đều thừa nhận mâu thuẫn là có xảy ra và thống nhất ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của anh chị, cho chị L được ly hôn anh T.

[2] Về con chung: Anh T, chị L xác định có 02 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 17/4/2005 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 17/3/2012, hiện 02 cháu đang sống chung với anh chị. Khi ly hôn, anh chị thỏa thuận chị L nuôi cháu A, anh T nuôi cháu K và cả hai anh chị không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy đây là sự thỏa thuận của các đương sự và cũng phù hợp nguyện vọng cháu K muốn sống với cha nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Quốc K cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Quốc A cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị L, anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[3] Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con: Chị L, anh T không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị L, anh T xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét;

[5] Về nợ chung: Chị L, anh T xác định vợ chồng có nợ bà Nguyễn Thị N số tiền 20.000.000đ. Khi ly hôn, chị L, anh T thỏa thuận mỗi người có trách nhiệm trả một nữa, cụ thể anh T nhận trả 10.000.000đ, chị L nhận trả 10.000.000đ. Xét thấy, sự tự nguyện trả nợ của các đương sự phù hợp với yêu cầu của bà N nên chấp nhận, buộc anh T, chị L mỗi người có trách nhiệm trả số tiền 10.000.000đ cho bà N.

Riêng đối với khoản nợ của bà Phan Thị Th số tiền 13.000.000đ, chị L thừa nhận có nợ; anh T không thừa nhận. Chị L xác định khoản nợ mượn bà Th, chị chi xài vào việc trả nợ, chi phí học hành cho 02 con, ăn uống hàng ngày những lúc anh

T không đưa tiền. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị L trình bày là có cơ sở, bởi anh chị cũng thừa nhận trong thời gian chung sống, mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình đều do chị L, nên anh T không biết. Hơn nữa, khoản nợ của bà Th có trong thời kỳ hôn nhân nên anh chị phải có trách nhiệm cùng trả. Vì vậy cần buộc anh T, chị L mỗi người có trách nhiệm trả số tiền 6.500.000đ cho bà Th.

[6] Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27; chị L, anh T phải chịu án phí đối với nợ chung quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 12, Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Ánh L về việc xin ly hôn anh Nguyễn Quốc T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 17/4/2005 cho anh Nguyễn Quốc T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 17/3/2012 cho chị Đặng Ánh L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh chị không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh T, chị L được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị L, anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung:

+ Chị L có nghĩa vụ hoàn trả: Bà Nguyễn Thị N số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng); bà Phan Thị Th số tiền: 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng).

+ Anh T có nghĩa vụ hoàn trả: Bà Nguyễn Thị N số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng); bà Phan Thị Th số tiền: 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bà N, bà Th có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị L, anh T không tự nguyện thi hành xong khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Chị L phải nộp: Án phí hôn nhân và gia đình 300.000đ, án phí đối với nghĩa vụ trả nợ 825.000đ. Tổng cộng chị L phải nộp án phí 1.125.000đ, ngày 05 tháng 12 năm 2018, chị L đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0001701 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ, chị L phải nộp tiếp số tiền 825.000đ (chưa nộp).

+ Anh T phải nộp: Án phí đối với nghĩa vụ trả nợ 825.000đ (Chưa nộp).

+ Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí, ngày 13/12/2018 bà đã được miễn dự nộp nên không đặt ra việc trả lại.

+ Bà Phan Thị Th không phải chịu án phí, ngày 18 tháng 12 năm 2018, bà đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 325.000đ theo biên lai số 0001820 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được trả lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 10/01/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:04/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về