Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/01/2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 05/01/2021 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 05/01/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 373/2020/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2020 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171 /2020/QĐTS- HNGĐ ngày 04/12/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐ- HNGĐ ngày 21/12/2020 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Hà Thị M, sinh năm 1994.

ĐKHKTT: Tổ dân phố L , thị trấn K , huyện B, tỉnh Bắc Giang. ( Xin vắng mặt ) * Bị đơn Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1989.

ĐKHKTT: Tổ dân phố C , thị trấn K , huyện C, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

+ Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hà Thị M trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Ph có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 29/07/2011 tại UBND xã Tân Thịnh ( nay là thị trấn K ), huyện C, tỉnh Bắc Giang. Trước khi cưới vợ chồng có được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 04/2020 vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng có nhiều bất đồng trong cuộc sống, anh Ph không tu chí làm ăn, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng ly thân từ tháng 04/ 2020 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Ph.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Tường V , sinh ngày 12/03/2012. Hiện nay con đang ở với chị, vợ chồng ly hôn chị xin được nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng anh Ph không có mặt và không có bản tự khai nộp cho Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có đi xác minh tại địa phương thì được cung cấp thông tin: Chị M và anh Ph có đăng ký kết hôn năm 2012, chị M sau đó về gia đình anh Ph sinh sống, quá trình sinh sống vợ chồng chị M có mâu thẫn nhưng không báo chính quyền địa phương, anh Ph sinh sống tại địa Ph.Quá trình chung sống vợ chồng hay cãi nhau, từ khoảng tháng 04/2020 chị M không ở cùng với gia đình anh Ph nữa, về việc chị M xin ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.Về con chung vợ chồng chị M có 01 con chung, hiện nay anh Ph vẫn sinh sống cùng với gia đình tại địa phương.

Quá trình giải quyết vụ án chị M có đơn xin từ chối hòa giải vì anh Ph đã nhiều lần Tòa án báo giọi nhưng đều không có mặt nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa ngày 21/12/2020 anh Ph vắng mặt, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 05/01/2021.

Tại phiên tòa hôm nay chị M xin vắng mặt tại phiên tòa và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa hôm nay anh Ph vắng mặt lần 2 không có lý do, Tòa án xét xử vắng mặt anh Ph.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về yêu cầu xin ly hôn của chị M: Chị Hà Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph.

Về con chung: Giao cho chị Hà Thị M nuôi con là Nguyễn Tường V , sinh ngày 12/03/2012.

Về cấp dưỡng nuôi con về tài sản không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Chị M chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi thảo luận, nghị án Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Đơn khởi kiện của chị Hà Thị M cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Anh Ph có hộ khẩu tại xã Tân Thịnh ( nay là thị trấn K ), vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B.

[3].Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, Anh Ph vắng mặt lần 2 không có lý do, hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh Ph theo quy định tại điều 228; điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4].Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Mvà anh Nguyễn Văn Ph đã đăng ký kết hôn vào ngày 29/07/2011 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh Ph là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân thì thấy: Lời khai của chị Ph về việc vợ chồng có mâu thuẫn, có sẩy ra cãi nhau và đã sống ly thân tháng 4 cuối năm 2019 đến nay phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương về việc chị M không sống cùng với anh Ph từ tháng 4/ 2020 và vợ chồng có mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân và không quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian sống chung vợ chồng chị M, anh Ph không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân, việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần cho chị M được ly hôn anh Ph.

[5].Về con chung: Vợ chồng chị M và anh Ph có 01 con chung là Vũ Nguyễn Tường V , sinh ngày 12/03/2012 cháu đã trên 07 tuổi, chị M có nguyện vọng nuôi con, anh Ph đã được thông báo về việc chị M xin nuôi con nhưng anh Ph không có ý kiến văn bản gửi cho Tòa án. Đối với yêu cầu nuôi con của chị M thì thấy: Hiện nay cháu Nguyễn Tường V đang ở cùng với chị M, chị M hiện có việc làm, có thu nhập và nơi ở ổn định, cháu V đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với chị M, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình có quy định “ ...trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con” nên để đảm bảo cho cháu Huyền ổn định cuộc sống và việc học tập cần giao cho chị M nuôi con Nguyễn Tường V là phù hợp.

Anh Ph có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở anh Ph thực hiện quyền này.

Chị M, anh Ph có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chị M không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6]. Về tài sản chung và công nợ: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7]. Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82, 83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

[1]. Về quan hệ vợ chồng: Chị Hà Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Hà Thị M nuôi con Nguyễn Tường V , sinh ngày 12/03/2012.

Anh Ph có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở anh Ph thực hiện quyền này.

Chị M, anh Phcó quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

[3]. Án phí: Chị Hà Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị M đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0002664 ngày 29/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Quyền kháng cáo: Chị M, anh Ph vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết.

Án xử công khai sơ thẩm.


24
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về