Bản án 01/2019/HSST ngày 21/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 01/2019/HSST NGÀY 21/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 21 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2018/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

Lê Văn N, sinh năm 1991; HKTT: Thôn Th, xã P, huyện Q, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn 12/12; Con ông Lê Văn M, sinh năm 1968 và con bà Trần Thị Ph, sinh năm 1971; Vợ là Nguyễn Thu Th, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc N xử phạt 24 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 12/11/2013 chấp hành xong án phí, ngày 24/4/2015, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 20/9/2018, N điện thoại cho bạn tên Q ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. N bảo Q bán cho N 12.000.000đồng ma túy rồi mang xuống khu vực cầu Bình Than, thuộc thôn Châu Cầu, xã Châu Phong, huyện Quế Võ thì Q đồng ý.

Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 21/9/2018, Q điện thoại cho N ra cầu Bình Than. Sau đó, N điều khiển xe máy Wave không biển kiển soát ra cầu Bình Than gặp Q đang ngồi trong xe taxi. N đưa cho Q 12.000.000đồng. Q cầm tiền và nói với N: “Đi quay lại 300m ở dưới lề đường bên trái có 01 hộp mầu đen, đồ để hết trong đấy rồi”.

N đi theo sự chỉ dẫn của Q thấy 01 hộp mầu đen có chữ Xmen ở rìa đường bên trái. N nhặt lên và mở ra xem thì thấy bên trong có: 02 túi nilon mầu trắng; bên trong túi nilon mầu trắng thứ nhất có 03 gói nilon mầu trắng có chứa chất tinh thể mầu trắng; bên trong túi nilon thứ hai có 10 gói nilon mầu trắng chứa chất tinh thể mầu trắng, 01 gói nilon mầu trắng bên trong chứa 03 viên nén mầu nâu trên bề mặt có ghi chữ “LV” và 01 viên nén mầu vàng. N biết đó là ma túy cần mua nên cầm và đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Trên đường đi về, N vào quán sửa điện thoại của anh Nguyễn Xuân Du để sửa điện thoại. Khi vào sửa điện thoại, N để gói ma túy vừa mua được ở thùng rác cạnh quán.

Khoảng 02 giờ 45 phút cùng ngày, khi sửa điện thoại xong N đi ra lấy ma túy. Khi N ra khỏi quán được khoảng 30 đến 40 m thì bị công an huyện Quế Võ phối hợp với công an xã Châu Phong kiểm tra. Quá trình kiểm tra, N đã tự lấy từ trong túi quần soóc bên phải đang mặc số ma túy vừa mua được giao nộp cho cơ quan công an. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Túi nilon thứ nhất có 03 gói nilon mầu trắng bên trong chứa dạng tinh thể mầu trắng.

- Túi nilon thứ hai có 10 gói mầu trắng bên trong có chất dạng tinh thể mầu trắng và 01 gói nilon mầu trắng chứa 03 viên nén mầu nâu trên bề mặt có chữ “LV” và 01 viên nén mầu vàng.

- 01 điện thoại di động, 01 xe máy hiệu Wave không biển kiểm soát.

Tại bản Kết luận giám định số 997/KLGĐMT-PC54 ngày 21/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc N kết luận:

“+ Chất tinh thể mầu trắng bên trong túi nilon thứ nhất có khối lượng là 1,0776 gam; là ma túy; loại ma túy: Chất Methamphetamine.

+ Chất tinh thể mầu trắng bên trong túi nilon thứ hai có khối lượng là 7,3512 gam; là ma túy; loại ma túy: Chất Ketamine.

+ 03 viên nén mầu nâu trên bề mặt có chữ “LV” bên trong túi nilon thứ hai có khối lượng 1,0321gam; là ma túy; loại ma túy: MDMA.

+ 01 viên nén mầu vàng bên trong túi nilon thứ hai có khối lượng là 0,2397 gam; là ma túy; loại ma túy: MDMA”.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình vào ngày 21/9/2018 như Viện kiểm sát đã truy tố.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 25/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố Lê Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Lê Văn N từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/9/2018. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 21/9/2018, tại thôn Châu Cầu, xã Châu Phong, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc N, công an huyện Quế Võ phối hợp với công an xã Châu Phong bắt quả tang Lê Văn N có hành vi tàng trữ trái phép trên người: 1,0776 gam ma túy, chất Methamphetamine; 1,2718 gam ma túy, chất MDMA và 7,3512 gam ma túy, chất Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang và vật chứng đã được thu hồi. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bởi lẽ chất ma túy không đơn thuần chỉ là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, phá vỡ hạnh phúc gia đình và làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, làm băng hoại đạo đức con người, suy giảm giống nòi.

Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang ra sức bài trừ tệ nạn ma túy thông qua các chương trình, mục tiêu quốc gia phòng chống các tội phạm về ma túy thì bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện để nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ tương đối lớn và nhiều loại ma túy khác nhau. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2013 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2015 và đã được xóa án tích.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Song xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, trước khi bị bắt không có công việc ổn định, mức thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho N theo N khai tên là Q ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. N không biết tên, tuổi cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc điện thoại N sử dụng để liên lạc việc mua ma túy với Q. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là của chị Trần Thị Phương là mẹ của N. Khi N sử dụng điện thoại để liên lạc việc mua ma túy thì chị Phương không biết. Ngày 10/12/2018, cơ quan điều tra trả lại cho chị Phương là có căn cứ.

Chiếc xe mô tô hiệu Wave không biển kiểm soát, N khai nhận là mượn của bạn tên là Thi ở xã Đức Long, huyện Quế Võ. Do xe không còn số khung, số máy. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa xác minh được chủ tài sản nên tách ra, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Vật chứng vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì có dấu của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc N là vật cấm sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử phạt: Lê Văn N 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2018 là ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc N. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2018 giữa Công an huyện Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc N).

Án phí: Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HSST ngày 21/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:01/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về