Bản án 01/2017/DS-ST ngày 16/01/2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 01/2017/DS-ST NGÀY 16/01/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 01 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2017/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2017 về “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2017/QĐXX ngày 28 tháng 11 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 285/2017/QĐST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đồng Thị T, sinh năm 1973. Địa chỉ: số 398, tổ 20, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

2. Bị đơn: Bà Liêu Thị Đ, sinh năm 1957. Địa chỉ: số 219, thôn 9, xã T,huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: anh Tạ Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ: số219, thôn 9, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Văn bản ủy quyền ngày31/7/2017). Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn bà Đồng Thị T trình bày:

Do quan hệ quen biết nên trong năm 2016 bà có nhiều lần cho bà Liêu Thị Đ vay tiền. Cụ thể như sau: Ngày 20/01/2016 cho vay 70.000.000 đồng hẹn trả vào ngày 20/01/2017; Ngày 24/4/2016 cho vay 110.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 10/01/2017; Ngày 04/5/2016 cho vay 60.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 10/01/2017; Ngày 4/7/2016 cho vay 100.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 04/01/2017; Ngày 29/8/2016 cho vay 30.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 10/01/2017; Ngày 26/7/2016 cho vay 10.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả; Ngày 25/8/2016 cho vay 70.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 10/01/2017; Ngày 07/9/2016 cho vay 70.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 01/01/2017. Ngoài ra, ngày 15/10/2016 bà Đ còn vay bà 700 kg cà phê nhân khô.

Tổng số tiền bà cho bà Đ vay là 520.000.000 đồng và 700 kg cà phê nhân khô.

Khi vay hai bên đều viết giấy tay, trong giấy tay không thỏa thuận lãi suất nhưng hai bên có thỏa thuận miệng lãi suất là 3%/tháng. Đến hẹn nhiều lần bà gặp và yêu cầu bà Đ trả nợ nhưng bà Đ trốn tránh và không trả tiền gốc cũng như lãi suất cho bà. Nay bà khởi kiện yêu cầu bà Liêu Thị Đ có trách nhiệm trả cho bà số tiền 520.000.000 đồng tiền gốc, 700kg Cà phê nhân khô Rôbusta độ ẩm 15%, tạp chất 1% và lãi suất là 1,125%/tháng trên số tiền 520.000.000 đồng tính từ ngày vay cho đến khi xét xử sơ thẩm.

Khi vay, chỉ một mình bà Đ ký xác nhận nợ nên bà xác định đây là nợ riêng của một mình bà Đ, không liên quan đến ông Tạ Văn T (chồng bà Đ), vì vậy bày chỉ yêu cầu một mình bà Liêu Thị Đ có trách nhiệm trả khoản nợ vay nêu trên. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.

Tài liệu chứng cứ chứng minh gồm: Bản chính: “Giấy thỏa thuận vay tiền” ghi ngày 20/01/2016; Bản chính: “Giấy thỏa thuận vay tiền” ghi ngày 24/4/2016; Bản chính: “Giấy thỏa thuận vay tiền” ghi ngày 04/5/2016; Bản chính: “Giấy thỏa thuận vay tiền” ghi ngày 04/7/2016; Bản chính: “Giấy vay tiền” ghi ngày 25/8/2016; Bản chính: “Giấy thỏa thuận vay tiền” ghi ngày 29/8/2016; Bản chính: “Giấy mượn tiền” ghi ngày 07/9/2016; Bản chính: “Giấy mượn cà phê nhân” ghi ngày 15/9/2016.

- Kết luận giám định số 1026/GĐ-PC54 ngày 02/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng thể hiện kết luận: “Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Liêu Thị Đ trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết ghi họ tên Liêu Thị Đ trên các tài liệu mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6 là do cùng một người viết ra.

Bị đơn bà Liêu Thị Đ có người đại diện theo ủy quyền anh Tạ Văn H trình bày:

Anh thừa nhận chữ ký và chữ viết Liêu Thị Đ trong các giấy vay các ngày 25/8/2016 vay 70.000.000 đồng; ngày 7/9/2016 vay 70.000.000 đồng do nguyên đơn xuất trình là do bà Đ viết và ký tên. Như vậy, tổng số tiền mà bà Đ nợ bà T theo các giấy nhận nợ là 140.000.000 đồng. Do đó, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T thì anh là đại diện cho bà Đ chỉ đồng ý trả cho bà T số tiền gốc là 140.000.000 đồng. Về lãi suất: trong quá trình vay theo bà Đ trao đổi với anh thì giữa bà T và bà Đ có thỏa thuận lãi suất vay và bà Đ đã nhiều lần thanh toán cho bà T nhưng không xác định cụ thể lãi suất và số tiền lãi đã thanh toán là bao nhiêu, do đó anh đề nghị Tòa án áp dụng lãi suất theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án;

- Đối với các giấy vay nợ ghi các ngày 20/01/2016 vay 70.000.000 đồng; ngày 24/4/2016 vay 110.000.000 đồng; Ngày 04/5/2016 vay 60.000.000 đồng; Ngày 4/7/2016 vay 100.000.000 đồng; Ngày 29/8/2016 vay 30.000.000 đồng; Ngày 26/7/2016 cho vay 10.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả và ngày 15/10/2016 vay 700 kg cà phê nhân. Tổng số tiền vay là 380.000.000 đồng và 700kg Cà phê nhân thì anh là đại diện cho bà Đ không thừa nhận chữ ký và chữ viết trong các giấy vay này là của bà Đ. Cũng chính vì vậy, bà Đ không chấp nhận trả cho bà T số tiền 380.000.000 đồng và 700 kg Cà phê nhân theo các giấy vay nợ này.

Anh cũng đã được Tòa án thông báo và photocopy Kết luận giám định số 1027/GĐ-PC54 ngày 28/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng. Đây là kết luận khoa học của cơ quan chuyên môn nên anh không có ý kiến gì.

Tài liệu, chứng cứ chứng minh không có.

Tòa án đã tiến hành hòa giải vào ngày 28/11/2017 nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau nên hòa giải không thành.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Đ có trách nhiệm trả số tiền gốc là 520.000.000 đồng và 700kg Cà phê nhân khô Rôbusta độ ẩm 15%, tạp chất 1%. Đối với lãi suất bà T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Đ có trách nhiệm trả lãi suất với mức 0,75%/tháng trên số tiền 520.000.000 đồng nợ gốc tính từ ngày vay cuối cùng là ngày 7/9/2016 cho đến ngày xét xử hôm nay 16/01/2018 là 16 tháng 09 ngày nhưng tính tròn là 16 tháng tương ứng là 62.400.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh có quan điểm:

Về việc tuân theo tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T, buộc bị đơn bà Đ có trách nhiệm trả cho bà T số tiền gốc là 520.000.000 đồng, 700kg Cà phê nhân khô và 62.400.000 đồng tiền lãi suất. Về án phí và chi phí tố tụng: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự

[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo bà T thì do quen biết nên trong năm 2016 bà nhiều lần cho bà Đ vay tiền; tổng số tiền bà cho bà Đ vay là 520.000.000 đồng và 700kg Cà phê, khi vay hai bên có viết giấy vay và bà Đ đều ký và ghi họ và tên xác nhận trong các giấy vay, trong các giấy vay đều xác nhận thời hạn trả nợ, mặc dù trong giấy vay không ghi lãi suất nhưng theo hai bên có thỏa thuận lãi suất cho vay là 3%/ tháng; đến hạn nhiều lần bà yêu cầu bà Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà Đ không thực hiện. Nay bà cho rằng quyền lợi bị xâm phạm nên khởi kiện yêu cầu bà Đ có nghĩa vụ trả cho bà số tiền vay gốc là 520.000.000 đồng; 700kg Cà phê và lãi suất là 0,75%/tháng trên số tiền 520.000.000 đồng kể từ ngày vay cho đến khi xét xử sơ thẩm, do đó Hội đồng xét xử cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có đủ cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản”. Theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

[3] Theo các giấy vay tiền do nguyên đơn bà T xuất trình trong quá trình giải quyết vụ án có thể hiện chữ ký và ghi tên Liêu Thị Đ thì thể hiện trong năm 2016 bà Đ có vay của bà T tổng số tiền là 520.000.000 đồng và 700kg Cà phê. Người đại diện theo ủy quyền cho bà Đ là anh Tạ Văn H chỉ thừa nhận ngày 25/8/2016 bà Đ có vay bà X 70.000.000 đồng; ngày 7/9/2016 bà Đ có vay 70.000.000 đồng. Tổng số tiền mà anh H thừa nhận bà Đ có vay bà T là 140.000.000 đồng, anh cũng thừa nhận chữ ký và ghi tên Liêu Thị Đ trong những giấy vay trên là do bà Đ viết và ký tên, đồng thời đồng ý trả khoản nợ vay này cho bà T.

 [4] Đối với các giấy vay nợ ghi các ngày 20/01/2016 vay 70.000.000 đồng; ngày 24/4/2016 vay 110.000.000 đồng; Ngày 04/5/2016 vay 60.000.000 đồng; Ngày 4/7/2016 vay 100.000.000 đồng; Ngày 29/8/2016 vay 30.000.000 đồng; Ngày 26/7/2016 cho vay 10.000.000 đồng và ngày 15/10/2016 vay 700 kg cà phê nhân; Tổng số tiền vay là 380.000.000 đồng và 700kg Cà phê nhân mà anh H không thừa nhận, qua xem xét thì thấy rằng mặc dù anh H không thừa nhận chữ ký và ghi tên Liêu Thị Đ tại các giấy vay tiền nêu trên không phải do bà Đ ký và ghi họ và tên xác nhận. Tuy nhiên, lời trình bày của anh H không được bà T thừa nhận. Mặt khác, theo Kết luận giám định số 1206/GĐ-PC54 ngày 02/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng (BL 60) đã nêu: “Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Liêu Thị Đ trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 (chữ ký và ghi họ tên Liêu Thị Đ mà anh H thừa nhận) so với chữ ký, chữ viết ghi họ tên Liêu Thị Đ trên các tài liệu mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6 (chữ ký và ghi họ tên Liêu Thị Đ mà anh H thừa nhận) là do cùng một người viết ra”. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định lời trình bày của anh H là không có cơ sở. Do đó, ngoài khoản nợ 140.000.000 đồng anh H thừa nhận thì cần xác định bà Đ có vay bà T 280.000.000 đồng và 700kg Cà phê nhân như trong các giấy vay nợ đã nêu trên và xác định tổng số tiền bà Đ vay bà T là 520.000.000 đồng; 700 kg Cà phê nhân khô, căn cứ theo quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự cần buộc bà Đ có trách nhiệm trả cho bà T là phù hợp.

 [5] Về lãi suất: Tại phiên tòa hôm nay, bà T chỉ yêu cầu bà Đ có trách nhiệm trả lãi suất tiền vay bằng 0,75%/tháng trên số tiền 520.000.000 đồng nợ gốc tính từ ngày vay cuối cùng là ngày 7/9/2016 cho đến ngày xét xử hôm nay 16/01/2018 là 16 tháng 09 ngày nhưng tính tròn là 16 tháng tương ứng là 62.400.000 đồng. Xét yêu cầu tính lãi suất của bà T là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005, bằng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố theo Quyết định số 2868/QĐ-NHND ngày 29/11/2010 nên chấp nhận và cần buộc bà Đ có trách nhiệm trả tiền lãi là 62.400.000 đồng.

Từ những phân tích trên, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc bà Đ có trách nhiệm trả cho bà T số tiền 582.400.000 đồng (Trong đó gốc là 520.000.000 đồng, lãi suất là 62.400.000 đồng) và 700kg Cà phê nhân khô Rôbusta độ ẩm 15%, tạp chất 1%;

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà T.

Bà Liêu Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho bà T là 28.304.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụQuốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. (Nghĩa vụ trên số tiền 582.400.000 đồng +700kg x 36.000 đồng/kg = 20.000.000 đồng x 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng)

[7] Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định là 3.690.000 đồng, bà T nộp tạm ứng và đã quyết toán xong. Do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận nên cần buộc bà Đ có nghĩa vụ hoàn trả cho bà T theo quy định tại Điều 161 và Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 474, khoản 2 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đồng Thị T về việc khởi kiện “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”. Buộc bị đơn bà Liêu Thị Đ có trách nhiệm trả cho bà Đồng Thị T số tiền số tiền 582.400.000 đ (Năm trăm tám hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và 700kg Cà phê nhân khô Rôbusta độ ẩm 15%, tạp chất 1%;

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự

2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Liêu Thị Đ có trách nhiệm hoàn trả cho bàĐồng Thị T số tiền 3.690.000 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng)

3. Về án phí:

3.1. Bà Đồng Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.222.000 đồng (Mười bốn triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/000 2936 ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.

3.2. Buộc bà Liêu Thị Đ phải chịu 28.304.000 đ (Hai mươi tám triệu ba trăm lẻ bốn nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi  hành án dân sự, người phải thi hành án dân sựcó quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


53
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về