Khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 được quy định như thế nào?
Khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 được quy định như thế nào?
Căn cứ tại khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội lừa dối khách hàng cụ thể như sau:
Tội lừa dối khách hàng
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.
...
Theo quy định trên thì các đối tượng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
- Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.
Khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 quy định các hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi lừa dối khách hàng có tính chất nghiêm trọng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.

Khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 được quy định như thế nào? (Hình từ internet)
Cấu thành tội phạm “Lừa dối khách hàng” được quy định như thế nào theo Bộ luật hình sự?
Cấu thành tội phạm "Lừa dối khách hàng" theo quy định tại Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi lừa dối khách hàng. Theo Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Ngoài ra, người đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.
Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, cũng như uy tín của các doanh nghiệp. Hành vi lừa dối khách hàng xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tài sản và quyền lợi ích hợp pháp khác của họ.
Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm liên quan đến lỗi và mục đích của người thực hiện hành vi.
Lỗi: Người thực hiện hành vi lừa dối khách hàng là do lỗi cố ý. Lỗi cố ý có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Cố ý trực tiếp là khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là lừa dối và mong muốn hậu quả xảy ra. Cố ý gián tiếp là khi người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nhưng vẫn tiếp tục thực hiện và chấp nhận hậu quả có thể xảy ra.
Mục đích: Mục đích của người phạm tội là thu lợi bất chính từ hoạt động lừa dối khách hàng. Điều này thể hiện qua việc họ sử dụng các thủ đoạn gian dối để đạt được lợi ích tài chính.
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm liên quan đến hành vi và hậu quả của hành vi đó.
Hành vi gian dối: Hành vi lừa dối khách hàng thể hiện qua việc:
Cân, đong, đo, đếm sai.
Tính tiền sai.
Đánh tráo hàng hóa.
Dùng thủ đoạn gian dối khác trong mua bán, cung cấp dịch vụ.
Hậu quả: Tội phạm được coi là hoàn thành nếu gây thiệt hại cho khách hàng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Khung hình phạt
Bộ luật Hình sự quy định các khung hình phạt cho tội lừa dối khách hàng như sau:
Khung cơ bản: Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Khung tăng nặng: Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên.
Tóm lại, cấu thành tội phạm "Lừa dối khách hàng" bao gồm các yếu tố về chủ thể, khách thể, mặt chủ quan và mặt khách quan, cũng như các khung hình phạt tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
Trường hợp lừa dối khách hàng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?
Theo quy định khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội lừa dối khách hàng:
Tội lừa dối khách hàng
1. Người nào trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
Như vậy, hành vi lừa dối khách hàng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Hành vi lừa dối xảy ra trong quá trình mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ, bao gồm việc cân, đong, đo, đếm gian hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng thủ đoạn gian dối khác.
- Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự:
Đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án trước đó: Người thực hiện hành vi lừa dối đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội lừa dối khách hàng, nhưng chưa được xóa án tích mà vẫn tiếp tục vi phạm.
Thu lợi bất chính: Hành vi lừa dối dẫn đến việc thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
- Hình phạt áp dụng:
Khung cơ bản: Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Khung tăng nặng: Nếu hành vi có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa dối khách hàng, hành vi phải đáp ứng các điều kiện cụ thể và gây ra hậu quả nhất định.




