Nghị định 23/2021/NĐ-CP còn hiệu lực không? Điều khoản chuyển tiếp Nghị định 352/2025/NĐ-CP được quy định như thế nào? Thông báo hoạt động dịch vụ việc làm từ ngày 01/01/2026?
>> Hợp đồng lao động điện tử ký trước 2026 có phải ký lại không?
>> Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để ký hợp đồng lao động điện tử từ 01/7/2026?
Bài viết này PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP sẽ tổng hợp các thông tin giải đáp:“ Nghị định 23/2021/NĐ-CP còn hiệu lực không?”, bạn có thể tham khảo nội dung bài viết sau đây.
Ngày 30/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 352/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm 2025 về dịch vụ việc làm.
Tại Điều 27 Nghị định 352/2025/NĐ-CP quy định hiệu lực thi hành Nghị định 352/2025/NĐ-CP như sau:
Điều 27. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
2. Nghỉ định số 23 2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 37 và Điều 39 của Luật Việc làm về trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Theo đó, Nghị định 352/2025/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026 và thay thế Nghị định 23/2021/NĐ-CP.
Như vậy Nghị định 23/2021/NĐ-CP chính thức hết hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và được thay thế bởi Nghị định 352/2025/NĐ-CP.
Trên đây là nội dung giải đáp thắc mắc “Nghị định 23/2021/NĐ-CP còn hiệu lực không?”.
![]() |
Phụ lục I Nghị định 352/2025/NĐ-CP PDF |

Nghị định 23/2021/NĐ-CP còn hiệu lực không (Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Căn cứ theo Điều 28 Nghị định 352/2025/NĐ-CP quy định điều khoản chuyển tiếp như sau:
(i) Các doanh nghiệp đã được cấp, cấp lại, gia hạn Giấy phép trước ngày Nghị định 352/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm cho đến khi Giấy phép hết hạn trừ trường hợp bị thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 352/2025/NĐ-CP.
(ii) Không áp dụng quy định tại điểm c, e khoản 1 Điều 18 Nghị định 352/2025/NĐ-CP đối với trường hợp doanh nghiệp thay đổi địa chỉ trụ sở chính thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm so với địa chỉ trên Giấy phép do sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp, trừ trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu cấp lại Giấy phép.
(iii) Doanh nghiệp đã nộp đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn hoặc thu hồi Giấy phép và đáp ứng đủ các điều kiện theo Nghị định 23/2021/NĐ-CP trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa được cấp, cấp lại, gia hạn hoặc thu hồi sẽ không thực hiện lại các bước trong thủ tục hành chính đã thực hiện và được cấp, cấp lại, gia hạn hoặc thu hồi Giấy phép theo quy định của Nghị định 352/2025/NĐ-CP.
(iv) Tổ chức dịch vụ việc làm công thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định 23/2021/NĐ-CP thì được tiếp tục hoạt động. Trường hợp không bảo đảm điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 352/2025/NĐ-CP thì phải bổ sung đầy đủ điều kiện trong thời hạn 24 tháng; trường hợp không bổ sung đầy đủ thì phải chấm dứt hoạt động dịch vụ việc làm.
Căn cứ theo Điều 22 Nghị định 352/2025/NĐ-CP quy định thông báo hoạt động dịch vụ việc làm như sau:
Điều 22. Thông báo hoạt động dịch vụ việc làm
1. Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy phép, doanh nghiệp phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng về Giấy phép, địa điểm, lĩnh vực hoạt động, tên người đại diện theo pháp luật thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm, trang thông tin điện tử (website) (nếu có), email, số điện thoại liên hệ.
2. Trước 10 ngày làm việc, kể từ ngày bắt đầu hoạt động dịch vụ việc làm, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Cơ quan có thẩm quyền nơi đặt trụ sở chính thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp về ngày bắt đầu hoạt động.
3. Trường hợp chuyển địa điểm đặt trụ sở chi nhánh, doanh nghiệp phải có văn bản gửi Cơ quan có thẩm quyền nơi đặt trụ sở chi nhánh về địa điểm mới kèm theo giấy tờ chứng minh điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định này trong thời hạn 10 ngày làm việc, trước ngày thực hiện chuyển địa điểm



