Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 khi nào hết hiệu lực? Được thay thế bởi Luật nào? Xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp như thế nào theo quy định?
>> Tờ khai hải quan là gì? Mẫu tờ khai hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu mới nhất 2025 là mẫu nào?
>> Khoản tiền đóng Quỹ phòng chống thiên tai có được trừ khi tính thuế TNDN 2025 không?
Bài viết này PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP sẽ giải đáp thắc mắc liên quan nội dung "Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 khi nào hết hiệu lực? Được thay thế bởi Luật nào?" chi tiết tại bài viết dưới đây:
Ngày 14/6/2025, Quốc hội thông qua Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 (Luật số 67/2025/QH15), có hiệu lực từ 01/10/2025.
Trong đó, căn cứ tại Điều 19 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 về hiệu lực thi hành như sau:
Điều 19. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2025 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025.
2. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 61/2020/QH14, Luật số 12/2022/QH15 và Luật số 15/2023/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
...
Theo đó, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 sẽ chính thức hết hiệu lực từ ngày ngày 01/10/2025 và được thay thế bởi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.
![]() |
Dự thảo Thông tư hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 |

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 khi nào hết hiệu lực; Được thay thế bởi Luật nào
(Ảnh minh họa - Nguồn từ Internet)
Căn cứ theo Điều 20 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 về quy định chuyển tiếp cụ thể như sau:
1. Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm cấp phép hoặc cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trường hợp pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp có sửa đổi, bổ sung mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung thì doanh nghiệp được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế suất và về thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp phép, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, được phép đầu tư hoặc theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời gian còn lại.
2. Trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư mà không thuộc diện được hưởng ưu đãi theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành nhưng thuộc diện hưởng ưu đãi theo quy định của Luật này thì được áp dụng ưu đãi theo quy định của Luật này cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế năm 2025.
Tại Điều 7 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 có quy định về xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
1. Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:
Thu nhập tính thuế
=
Thu nhập chịu thuế
-
Thu nhập được miễn thuế
+
Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định
2. Thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 1 Điều này được xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế
=
Doanh thu
-
Các khoản chi được trừ
+
Các khoản thu nhập khác (kể cả thu nhập nhận được ở ngoài Việt Nam)
3. Doanh nghiệp có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế thì thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh là tổng thu nhập của tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trường hợp có hoạt động sản xuất, kinh doanh bị lỗ thì được bù trừ số lỗ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập do doanh nghiệp tự lựa chọn (trừ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư không bù trừ với thu nhập của hoạt động sản xuất, kinh doanh đang được hưởng ưu đãi thuế). Phần thu nhập còn lại sau khi bù trừ áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động sản xuất, kinh doanh còn thu nhập.
4. Thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế, không được bù trừ lỗ, lãi với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế.
