BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------

Số: 5189/TCT-CS
V/v giới thiệu các nội dung mới của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế.

Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2020

 

Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày 13/6/2019, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 với hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.

Ngày 19/10/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế, có hiệu lực thi hành từ ngày 5/12/2020.

Tổng cục Thuế giới thiệu các nội dung mới của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và đề nghị các Cục Thuế khẩn trương tuyên truyền, phổ biến, thông báo cho cán bộ thuế và người nộp thuế trên địa bàn quản lý biết.

(Chi tiết nội dung cụ thể theo Phụ lục đính kèm).

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các Cục thuế kịp thời tổng hợp, phản ảnh về Tổng cục Thuế để được nghiên cứu giải quyết./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Tổng cục Thuế;
- Các Vụ, đơn vị thuộc, trực thuộc TCT;
- Lưu: VT, CS (3).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Đặng Ngọc Minh

 

PHỤ LỤC

GIỚI THIỆU MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 126/2020/NĐ-CP NGÀY 19/10/2020 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ
(Kèm theo công văn số 5189/TCT-CS ngày 07/12/2020 của Tổng cục Thuế)

1. Về phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế áp dụng đối với việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; trừ nội dung quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, áp dụng hóa đơn, chứng từ, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế và hóa đơn, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan (được quy định tại các Nghị định riêng theo Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 26/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ).

2. Về quản lý thuế đối với người nộp thuế trong thời hạn tạm ngừng hoạt động, kinh doanh

a) Về căn cứ xác định thời gian người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 4

Điểm mới 1: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế, Nghị định đã quy định đối với người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc diện đăng ký kinh doanh được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận, thông báo hoặc yêu cầu tạm ngừng hoạt động, kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn thì thời gian tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn thực hiện theo văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Cơ quan thuế không nhận văn bản đăng ký tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn của người nộp thuế mà nhận văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp gửi đến.

Trước đây: Tại Khoản 2 Điều 21 Thông tư số 95/2016/TT-BTC quy định thời gian tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn thực hiện theo văn bản đăng ký của người nộp thuế. Cơ quan thuế nhận văn bản đăng ký tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn của tất cả người nộp thuế.

Điểm mới 2: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Quản lý thuế. Nghị định đã quy định đối với người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc diện đăng ký kinh doanh thì nộp văn bản đăng ký tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn cho cơ quan thuế chậm nhất là 01 ngày làm việc trước khi tạm ngừng hoạt động, kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn.

Trước đây: Tại Khoản 1 Điều 21 Thông tư số 95/2016/TT-BTC quy định thời gian là 15 ngày đối với tổ chức và 01 ngày làm việc đối với hộ gia đình, nhóm cá nhân, cá nhân kinh doanh.

Điểm mới 3: Bổ sung quy định thời gian giải quyết và trả kết quả tạm ngừng hoạt động, kinh doanh của cơ quan thuế cho người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc diện đăng ký kinh doanh.

Trước đây: Chưa có quy định này.

b) Về quản lý thuế đối với người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh quy định tại Khoản 2 Điều 4

Điểm mới: Sửa đổi quy định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế về quản lý thuế và quyền hạn và trách nhiệm của người nộp thuế về thực hiện nghĩa vụ thuế trong thời gian người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh.

Trước đây:

Tại Điều 14 Thông tư số 151/2014/TT-BTC sửa đổi điểm đ, Khoản 1, Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ (gọi chung là Thông tư số 156/2013/TT-BTC):

“đ) Người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh không phát sinh nghĩa vụ thuế thì không phải nộp hồ sơ khai thuế của thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh. Trường hợp người nộp thuế tạm ngừng kinh doanh không trọn năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn phải nộp hồ sơ quyết toán thuế năm...”

c) Bổ sung quy định người nộp thuế đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế không được đăng ký tạm ngừng hoạt động, kinh doanh khi cơ quan thuế đã có Thông báo về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký tại Khoản 4 Điều 4.

Trước đây: Áp dụng quy định của quản lý thuế đối với các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu (được gọi chung là thuế).

3. Quản lý thu các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước

Điểm mới: Căn cứ quy định về các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước tại khoản 2 (do cơ quan quản lý thuế quản lý thu), khoản 3 (không do cơ quan quản lý thuế quản lý thu) tại Điều 3 Luật quản lý thuế và quy định của Luật quản lý thuế giao Chính phủ căn cứ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan quy định việc áp dụng quy định quản lý khoản thu về thuế của Luật này để quản lý thu đối với các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước tại khoản 4 Điều 151 của Luật quản lý thuế, Nghị định đã quy định việc quản lý thu các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước tại Điều 5.

Trước đây: Chưa có quy định này.

4. Về đăng ký thuế

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về người nộp thuế là cá nhân khi thay đổi thông tin về giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hộ chiếu thì ngày phát sinh thông tin thay đổi là 20 ngày (riêng các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo là 30 ngày) kể từ ngày ghi trên giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hộ chiếu (Khoản 2 Điều 6).

Trước đây: Luật Quản lý thuế quy định thời hạn nộp hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế là 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thay đổi.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định trách nhiệm của người nộp thuế trong việc thực hiện các thủ tục về thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thay đổi địa chỉ trụ sở sang địa bàn cấp tỉnh khác là được chuyển số thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đã tạm nộp nhưng chưa đến thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế để bù trừ với số phải nộp theo hồ sơ khai quyết toán thuế (Khoản 2 Điều 6).

Trước đây: Tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP không có quy định người nộp thuế được chuyển các khoản này.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định trách nhiệm của người nộp thuế trong việc thực hiện các thủ tục về thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi khôi phục mã số thuế, về nguyên tắc là phải hoàn thành đầy đủ số tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước với cơ quan thuế trực tiếp. Trường hợp người nộp thuế có số tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước còn nợ nhưng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ theo cam kết của người nộp thuế hoặc khoản tiền nợ đã được gia hạn nộp hoặc khoản tiền nợ không phải tính tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế thì người nộp thuế không phải hoàn thành nghĩa vụ nợ thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước khi khôi phục mã số thuế (Khoản 4 Điều 6).

Trước đây: Tại Điều 20 Thông tư số 95/2016/TT-BTC quy định người nộp thuế phải hoàn thành tất cả các khoản nợ thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước.

5. Về khai thuế, tính thuế

5.1. Về khai bổ sung hồ sơ khai thuế

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về khai bổ sung tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công thì đồng thời phải khai bổ sung tờ khai tháng, quý có sai, sót tương ứng (Điểm a Khoản 4 Điều 7).

Trước đây: Tại Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Trường hợp đã nộp hồ sơ khai quyết toán thuế năm thì chỉ khai bổ sung hồ sơ khai quyết toán thuế năm, không phải khai bổ sung tờ khai tháng, quý có sai, sót tương ứng.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định người nộp thuế chỉ được khai bổ sung tăng số thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn khi chưa nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế tiếp theo và chưa nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế (Điểm b Khoản 4 Điều 7).

Trước đây: Căn cứ các quy định tai Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn: Trường hợp chưa đến thời hạn khai thuế của kỳ tính thuế tiếp theo, người nộp thuế chưa nộp hồ sơ khai thuế để đưa số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau của kỳ tính thuế trước sang chỉ tiêu số thuế khấu trừ kỳ trước chuyển sang trên tờ khai chính thức của kỳ tính thuế tiếp theo và chưa nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế thì được khai bổ sung tăng chỉ tiêu đề nghị hoàn trên tờ khai bổ sung của kỳ tính thuế đó.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định người nộp thuế được nộp hồ sơ khai bổ sung cho từng hồ sơ khai thuế nếu phát hiện hồ sơ khai thuế lần đầu đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót nhưng chưa hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót (Khoản 4 Điều 7).

Trước đây: Tại Điểm a Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế.

5.2. Về khai thuế giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng từ hoạt động xổ số, sản xuất điện, hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân cho thuế tài sản)

Điểm mới 1: Bổ sung quy định người nộp thuế phải lập hồ sơ khai thuế GTGT riêng đối với khoản thu hộ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng (Điểm a, c, đ Khoản 2 Điều 7).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định người nộp thuế phải lập hồ sơ khai thuế GTGT riêng đối với từng dự án đầu tư thuộc diện được hoàn thuế giá trị gia tăng và nộp tại cơ quan thuế nơi có dự án đầu tư; đồng thời phải bù trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho từng dự án đầu tư với số thuế GTGT phải nộp (nếu có) của hoạt động, kinh doanh đang thực hiện cùng kỳ tính thuế.

Trường hợp Chủ dự án đầu tư giao Ban quản lý dự án và Chi nhánh tại địa phương cấp tỉnh khác địa phương nơi Chủ dự án đầu tư đóng trụ sở chính thay mặt Chủ dự án đầu tư trực tiếp quản lý một hoặc nhiều dự án đầu tư tại nhiều địa phương thì Ban quản lý dự án và Chi nhánh phải lập hồ sơ khai thuế riêng đối với từng dự án đầu tư nộp cho cơ quan thuế nơi có dự án đầu tư và phải bù trù số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế GTGT phải nộp của tất cả các hoạt động kinh doanh cùng kỳ tính thuế của Chủ dự án đầu tư và Chi nhánh.

Khi dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp đã hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế giá trị gia tăng phát sinh, số thuế giá trị gia tăng đã hoàn, số thuế giá trị gia tăng chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành lập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

(Điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm a khoản 1 Điều 11).

Trước đây:

- Điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP: Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào bù trừ với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, sau khi bù trừ nếu số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng đối với dự án đầu tư.

- Tại Điểm c Khoản 3 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTCKhoản 3 Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC hướng dẫn:

“Người nộp thuế thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Sau khi bù trừ nếu có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư mà chưa được bù trừ hết theo mức quy định của pháp luật về thuế GTGT thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư.

Người nộp thuế có dự án đầu tư thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi đóng trụ sở chính. Trường hợp người nộp thuế có dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, thì người nộp thuế lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi đóng trụ sở chính. Trường hợp người nộp thuế có quyết định thành lập các Ban Quản lý dự án hoặc chi nhánh đóng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính để thay mặt người nộp thuế trực tiếp quản lý một hoặc nhiều dự án đầu tư tại nhiều địa phương, Ban Quản lý dự án, chi nhánh có con dấu theo quy định của pháp luật, lưu giữ sổ sách chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, có tài khoản gửi tại ngân hàng, đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế thì Ban Quản lý dự án, chi nhánh phải lập hồ sơ khai thuế riêng với cơ quan thuế địa phương nơi đăng ký thuế.

Khi dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp đã hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế giá trị gia tăng phát sinh, số thuế giá trị gia tăng đã hoàn, số thuế giá trị gia tăng chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành lập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Trường hợp người nộp thuế có dự án đầu tư và phải thực hiện bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện thì việc kê khai thuế giá trị gia tăng của dự án đầu tư theo tháng hay quý được thực hiện cùng với việc kê khai thuế giá trị gia tăng của trụ sở chính.”

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế GTGT trong trường hợp chỉ có hoạt động, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, doanh nghiệp chế xuất chỉ có hoạt động xuất khẩu (Điểm a, c Khoản 3 Điều 7).

Trước đây:

Căn cứ quy định tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC, Tổng cục Thuế có hướng dẫn: Trường hợp người nộp thuế chỉ sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT thì không phải kê khai, nộp thuế GTGT. Trường hợp nếu phát sinh bán hàng hóa dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT (ví dụ: thanh lý tài sản,..) thì người nộp thuế sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế và nộp thuế theo quy định.

Điểm mới 4: Sửa đổi quy định khai thuế GTGT theo quý đối với doanh thu của sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển có doanh thu trên 50 tỷ đồng/năm (Điều 9).

Trước đây:

Tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 21/2016/TT-BTC quy định: Người nộp thuế thực hiện khai thuế GTGT theo quý đối với Doanh thu của sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh Mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển (không phân biệt có doanh thu trên hay dưới 50 tỷ đồng/năm).

Điểm mới 5: Sửa đổi quy định rõ thuế giá trị gia tăng là loại thuế khai theo tháng, quý, từng lần phát sinh. Trường hợp người nộp thuế khai thuế theo tháng đủ điều kiện khai thuế theo quý thì được lựa chọn chuyển sang khai thuế theo quý hoặc tiếp tục khai thuế theo tháng. Thời kỳ khai thuế tháng/quý ổn định trọn năm dương lịch, trường hợp đang khai tháng đủ điều kiện khai quý và chuyển sang khai quý thì phải có văn bản gửi cơ quan thuế, trường hợp đang khai thuế GTGT theo quý phát hiện không đủ điều kiện khai theo quý thì không phải nộp lại hồ sơ khai thuế theo tháng của các quý trước đó nhưng phải nộp Bản xác định số tiền thuế phải nộp theo tháng tăng thêm so với số đã kê khai theo quý và phải tính tiền chậm nộp (Điều 9).

Trước đây:

- Tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP chỉ quy định về nguyên tắc áp dụng đối với người nộp thuế đáp ứng điều kiện có tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống.

- Tại Điều 15 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn: thời kỳ khai thuế tháng/quý ổn định trọn năm dương lịch và theo chu kỳ ổn định 3 năm, trường hợp đủ điều kiện khai quý nhưng muốn khai tháng thì phải có văn bản gửi cơ quan thuế, trường hợp đang khai thuế GTGT theo quý phát hiện không đủ điều kiện khai theo quý thì kể từ năm tiếp theo liền kề của năm phát hiện cho đến hết chu kỳ ổn định, người nộp thuế phải thực hiện khai thuế theo tăng.

Điểm mới 6: Sửa đổi quy định trường hợp người nộp thuế hạch toán tập trung tại trụ sở chính nhưng có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại đơn vị hành chính cấp tỉnh khác nơi có trụ sở chính thì người nộp thuế khai thuế tại trụ sở chính và tính thuế, phân bổ nghĩa vụ thuế phải nộp theo từng địa phương nơi được hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước (Khoản 2 Điều 11).

Trước đây:

- Tại Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC hướng dẫn: Trường hợp cơ sở sản xuất trực thuộc khác tỉnh không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu và không thực hiện hạch toán kế toán khai tập trung tại trụ sở chính nhưng phải tính phân bổ thuế phải nộp cho địa phương nơi đóng trụ sở.

- Tại Điểm b, c Khoản 11 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTCĐiểm a Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC hướng dẫn: Khai thuế GTGT tại địa phương nơi phát sinh hoạt động đối với: hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng chuyển nhượng bất động sản vãng lai ngoại tỉnh (doanh thu dưới 1 tỷ đồng; trừ: dự án kinh doanh bất động sản, công trình liên tỉnh), Chủ dự án ODA thuộc diện không được hoàn thuế GTGT và Nhà thầu nước ngoài thực hiện dự án ODA thuộc diện được hoàn thuế GTGT (trừ trường hợp dự án liên tỉnh).

Điểm mới 7: Sửa đổi quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với tất cả hoạt động chuyển nhượng bất động sản của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng (bao gồm cả trường hợp có thu tiền ứng trước của khách hàng theo tiến độ) tại địa bàn cấp tỉnh khác với nơi người nộp thuế đóng trụ sở chính là cơ quan thuế nơi có hoạt động chuyển nhượng bất động sản (điểm b Khoản 1 Điều 11).

Trước đây: Tại điểm c Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Trường hợp người nộp thuế có dự án kinh doanh bất động sản ở địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính, có thành lập đơn vị trực thuộc (chi nhánh, Ban quản lý dự án...) thì người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản với cơ quan thuế địa phương nơi phát sinh hoạt động kinh doanh bất động sản. Trường hợp người nộp thuế không thành lập đơn vị trực thuộc (chi nhánh, Ban quản lý dự án...) thì người nộp thuế khai và nộp thuế tại cơ quan thuế quản lý trụ sở chính.

Điểm mới 8: Sửa đổi quy định về hồ sơ khai thuế đối với từng phương pháp khai thuế GTGT, trong đó: bỏ Bảng kê thuế GTGT đã nộp vãng lai ngoại tỉnh mẫu số 01-5/GTGT và Thông báo chuyển đổi kỳ khai thuế GTGT từ quý sang tháng mẫu số 07/GTGT. Bổ sung Văn bản đề nghị thay đổi kỳ tính thuế từ tháng sang quý mẫu số 01/ĐK-TĐKTT và Bản xác định số tiền thuế phải nộp theo tháng tăng thêm so với số đã kê khai theo quý mẫu số 02/XĐ-PNTT (Danh mục hồ sơ khai thuế tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP)

Trước đây:

- Tại Điểm b Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 83/2013/NĐ-CPKhoản 2 Điều 5 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP quy định hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý, lần phát sinh là Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý, lần phát sinh.

- Tại Điểm e Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC hướng dẫn hồ sơ khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ tại trụ sở chính trong trường hợp có hoạt động vãng lai ngoại tỉnh phải bao gồm Bảng kê thuế GTGT đã nộp vãng lai ngoại tỉnh mẫu số 01-5/GTGT.

- Tại Điều 15 Thông tư số 151/2014/TT-BTC hướng dẫn trường hợp chuyển đổi kỳ tính thuế từ tháng sang quý phải có Thông báo chuyển đổi kỳ khai thuế GTGT từ quý sang tháng mẫu số 07/GTGT. Riêng Thông báo áp dụng phương pháp tính thuế GTGT mẫu số 06/GTGT đã bãi bỏ theo Thông tư số 93/2017/TT-BTC.

5.3. Về khai thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ thuế tiêu thụ đặc biệt từ hoạt động xổ số)

Điểm mới: Bổ sung hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt riêng cho cơ sở sản xuất, pha chế xăng sinh học (Danh mục hồ sơ khai thuế tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Theo quy định tại Nghị định số 14/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ chưa có quy định hồ sơ khai thuế riêng cho cơ sở sản xuất, pha chế xăng sinh học mà sử dụng chung với hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt chung của tất cả các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

5.4. Về khai thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí):

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, theo đó khai thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản theo làn phát sinh chỉ bắt buộc với người nộp thuế tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp tỷ lệ trên doanh thu theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp (Điểm e Khoản 4 Điều 8).

Trước đây: Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC quy định: Khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản áp dụng đối với doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh bất động sản và doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản nếu có nhu cầu.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định về nghĩa vụ tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý, theo đó tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm áp dụng bắt đầu từ kỳ tính thuế năm 2021. Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 03 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 03 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước (Điểm b Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Tại Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 91/2014/NĐ-CPĐiều 17 Thông tư 151/2014/TT-BTC quy định trường hợp tổng số bốn lần tạm nộp thấp hơn từ 20% trở lên so với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán thì doanh nghiệp phải nộp lãi chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số tạm nộp với số quyết toán tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế quý bốn của doanh nghiệp đến ngày thực nộp số thuế còn thiếu so với số quyết toán.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định về tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người nộp thuế có thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng hoặc cho thuê mua, có thu tiền ứng trước của khách hàng theo tiến độ phù hợp với quy định của pháp luật thì tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý theo tỷ lệ 1% trên số tiền thu được (Điểm b Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC quy định: Doanh nghiệp tạm nộp thuế theo doanh thu trừ chi phí (nếu doanh nghiệp xác định được chi phí tương ứng với doanh thu đã ghi nhận) hoặc theo tỷ lệ 1% trên doanh thu thu được tiền (nếu doanh nghiệp chưa xác định được chi phí tương ứng với doanh thu).

Điểm mới 4: Bổ sung quy định về khai thuế thu nhập doanh nghiệp tại nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh có thu nhập được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại cơ quan thuế nơi có hoạt động kinh doanh khác tỉnh, thành phố nơi có trụ sở chính (Điểm h Khoản 1 Điều 11).

Trước đây: Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC quy định: Người nộp thuế khai tập trung tại trụ sở chính cả phần phát sinh tại nơi có trụ sở chính và ở nơi có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc.

Điểm mới 5: Sửa đổi quy định công ty quốc phòng, an ninh thực hiện khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, cụ thể:

- Người nộp thuế tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý, nộp hồ sơ khai quyết toán năm và quyết toán đến thời điểm giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng hoặc tổ chức lại doanh nghiệp đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp công ty an ninh công ty Quốc phòng và nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

- Về hồ sơ khai quyết toán: Thực hiện theo quy định tại Điểm 7 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

Trước đây: Tại Điểm b Khoản 2 mục II Thông tư liên tịch số 85/2005/TTLT/BTC-BCA ngày 26/9/2005; Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 206/2014/BTC-BQP ngày 24/12/2014 quy định:

- Các công ty an ninh thuộc Bộ Công an, công ty quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng (Công ty an ninh, quốc phòng) có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khác tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp và nộp về tài khoản của Bộ Công an, Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng.

- Hàng quý, Cục Tài chính - Bộ Công an, Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng lập bảng kê số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý của Công ty an ninh, quốc phòng gửi Tổng cục Thuế, đồng thời nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty an ninh, quốc phòng vào Kho bạc Nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế quản lý trực tiếp Công ty an ninh, quốc phòng.

- Hàng năm, Cục Tài chính - Bộ Công an, Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng tổng hợp quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp gửi Tổng cục Thuế, đồng thời nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp sau quyết toán của Công ty an ninh, quốc phòng vào Kho bạc Nhà nước đồng cấp với Cơ quan thuế quản lý trực tiếp Công ty an ninh, quốc phòng. Thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp sau quyết toán vào ngân sách nhà nước chậm nhất là ngày 30/6 năm tiếp theo.

Điểm mới 6: Bổ sung Phụ lục 03-3D/TNDN; 03-8A/TNDN; 03- 8B/TNDN; 03-8C/TNDN; 03-9/TNDN kèm theo Tờ khai quyết toán 03/TNDN (Danh mục hồ sơ khai thuế tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

5.5. Về khai thuế tài nguyên (trừ thuế tài nguyên từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí):

Điểm mới: Bổ sung quy định khai thác tài nguyên không thường xuyên đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoặc không thuộc trường hợp phải cấp phép theo quy định của pháp luật khai theo từng lần phát sinh (Điểm d khoản 4 Điều 8).

Trước đây: Chưa có quy định này.

5.6. Về khai các khoản thuế, khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí (Khai theo tháng tại điểm e khoản 1 Điều 8; Khai theo quý tại điểm đ khoản 1 Điều 8; Khai theo từng lần phát sinh tại điểm p, q, r, s khoản 4 Điều 8; Khai theo từng lần xuất bản tại khoản 5 Điều 8; Khai quyết toán tại điểm h khoản 6 Điều 8):

Điểm mới 1: Sửa đổi thời hạn kê khai, nộp thuế đối với một số trường hợp sau:

- Thời hạn khai, nộp khoản phụ thu và thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính từ tiền kết dư của phần dầu để lại của hoạt động dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày Hội đồng Liên doanh quyết định số tiền kết dư của phần dầu để lại theo Nghị quyết từng kỳ họp Hội đồng Liên doanh nhưng không chậm hơn ngày 31 tháng 12 hàng năm (Điểm r Khoản 4 Điều 8).

- Đối với các khoản thuế và khoản thu khác từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác khí thiên nhiên thuộc loại khai theo tháng: thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 44 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 (Điểm e Khoản 4 Điều 8).

Trước đây:

- Tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Thông tư số 176/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thời hạn khai, nộp khoản phụ thu và thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính từ tiền kết dư của phần dầu để lại của hoạt động dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 chậm nhất là ngày thứ 20 kể từ ngày Hội đồng Liên doanh quyết định số tiền kết dư của phần dầu để lại theo Nghị quyết từng kỳ họp Hội đồng Liên doanh nhưng không chậm hơn ngày 31 tháng 12 hàng năm.

- Tại Điểm b Khoản 1 Điều 12, Điểm b Khoản 1 Điều 20 Thông tư số 36/2016/TT-BTCĐiểm a Khoản 2 Điều 25 Thông tư số 176/2014/TT-BTC hướng dẫn thời hạn nộp hồ sơ khai, nộp thuế tạm tính đối với các khoản thuế và khoản thu khác từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác khí thiên nhiên chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng xuất hóa đơn bán khí.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với các khoản thuế, khoản thu thuộc ngân sách nhà nước từ hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí: Người điều hành, doanh nghiệp liên doanh, công ty điều hành chung nộp hồ sơ khai thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước phát sinh từ hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế; Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nộp hồ sơ khai các khoản thu thuộc ngân sách nhà nước phát sinh từ hoạt động dầu khí theo quy định của Chính phủ tại quy chế quản lý tài chính của Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế (Khoản 5 Điều 11).

Trước đây:

- Tại Điều 4 Thông tư số 36/2016/TT-BTC ngày 26/2/2016 hướng dẫn địa điểm đăng ký thuế, khai, nộp các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, xuất bán dầu thô, khí thiên nhiên (trừ Lô 09.1) và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng phần quyền lợi tham gia hợp đồng dầu khí;

- Tại Điều 4 Thông tư số 22/2010/TT-BTC ngày 12/2/2010 hướng dẫn địa điểm đăng ký thuế, khai, nộp phụ thu.

- Chưa có quy định về địa điểm đăng ký thuế, khai, nộp các khoản thuế đối với hoạt động khai thác, xuất bán dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 và các khoản tiền lãi dầu khí nước chủ nhà được chia, tiền hoa hồng dầu khí, tiền đọc và sử dụng tài liệu dầu khí.

5.7. Về khai thuế đối với khoản thu từ cổ tức, lợi nhuận được chia (Điểm t Khoản 4 Điều 8)

Điểm mới: Thay đổi thời hạn khai cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, địa phương làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước khi công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thực hiện chi trả cổ tức, lợi nhuận là từng lần phát sinh theo quy định của Luật Quản lý thuế (10 ngày kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ).

Trước đây: Tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 61/2016/TT-BTC ngày 11/4/2016 của Bộ Tài chính quy định thời hạn khai cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, địa phương làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước khi công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thực hiện chi trả cổ tức, lợi nhuận trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày có thông báo chia cổ tức, lợi nhuận của công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

5.8. Về khai khoản thu từ lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ (Điểm c Khoản 6 Điều 8)

Điểm mới: Sửa đổi quy định tổng số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quyết toán năm áp dụng bắt đầu từ kỳ tính thuế năm 2021.

Trước đây: Tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 61/2016/TT-BTC quy định tổng số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đã tạm nộp của năm tài chính không thấp hơn 80% số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp theo quyết toán năm.

5.9. Về khai thuế đối với hoạt động khai thác tài sản bảo đảm (Điểm b Khoản 5 Điều 7, Điểm b Khoản 2 Điều 8)

Điểm mới: Bổ sung quy định tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền phát sinh hoạt động khai thác tài sản bảo đảm (TSBĐ) trong thời gian chờ xử lý, tài sản bảo đảm vẫn thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp thì tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền thực hiện khai thuế theo quý đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể:

- Nộp tờ khai thuế thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động khai thác TSBĐ trong thời gian chờ xử lý theo mẫu số 01/TSBĐ (tại Danh mục hồ sơ khai thuế theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

- Bảng kê chi tiết thuế thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động khai thác TSBĐ trong thời gian chờ xử lý theo mẫu số 01/TC-TSBĐ (tại Danh mục hồ sơ khai thuế theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Chưa có quy định hồ sơ khai thuế riêng dành cho tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền khai thay người nộp thuế có tài sản bảo đảm mà khai thuế cùng với hoạt động kinh doanh của Tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền.

5.10. Về khai thuế đối với hoạt động xổ số

Điểm mới 1: Bổ sung quy định người nộp thuế có nhiều hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán thì phải lập hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, lợi nhuận sau thuế riêng cho hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán (Điểm a Khoản 2 Điều 7).

Trước đây: Chưa quy định về nộp hồ sơ khai thuế riêng đối với hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định người nộp thuế có hoạt động kinh doanh xổ số điện toán phải nộp Bảng phân bổ số thuế phải nộp (nếu có) theo từng địa bàn cấp tỉnh nơi được hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước cho cơ quan thuế quản lý trụ sở chính đối với thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của hoạt động xổ số điện toán (Khoản 2 Điều 11).

Trước đây: Quy định về phân bổ thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán thực hiện theo quy định tại Nghị định số 122/2017/NĐ-CP ngày 13/11/2017 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số; Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam; Thông tư số 01/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số.

Điểm mới 3: Bổ sung Phụ lục bảng phân bổ số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu 01-3/GTGT; Phụ lục bảng phân bổ số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu số 01-3/TTĐB; Phụ lục bảng phân bổ số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu 03-8C/TNDN; Phụ lục bảng phân bổ số lợi nhuận còn lại phải nộp cho các địa phương được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu 01-1/QT-LNCL (tại Danh mục hồ sơ khai thuế theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Mẫu biểu phân bổ đã được quy định tại công văn số 4311/TCT-DNL ngày 04/10/2014 của Tổng cục Thuế.

5.11. Về khai thuế đối với hoạt động sản xuất điện

Điểm mới: Sửa đổi quy định người nộp thuế có nhà máy sản xuất điện (áp dụng đối với các loại hình sản xuất điện) ở địa bàn tỉnh, thành phố khác nơi có trụ sở chính thực hiện nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tại cơ quan thuế nơi có nhà máy sản xuất điện (điểm c Khoản 1 Điều 11).

Trước đây:

- Đối với hoạt động sản xuất thủy điện: Theo quy định tại Điều 23 Thông tư số 156/2013/TT-BTC thì cơ sở sản xuất thủy điện thực hiện khai thuế GTGT tại địa phương nơi đóng trụ sở chính và nộp thuế giá trị gia tăng vào kho bạc địa phương nơi có nhà máy sản xuất thủy điện.

- Đối với các hoạt động sản xuất điện khác, trừ thủy điện: Thực hiện theo quy định tại điểm d Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC, người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng tại trụ sở chính và nộp thuế giá trị gia tăng cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất theo tỷ lệ 2% trên doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng.

5.12. Về khai thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về người nộp thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu là thương nhân đầu mối, đơn vị phụ thuộc của thương nhân đầu mối, công ty con của thương nhân đầu mối và đơn vị phụ thuộc của thương nhân đầu mối, trong đó công ty con của thương nhân đầu mối được xác định theo quy định tại Luật Doanh nghiệp (bao gồm công ty con mà đơn vị đầu mối nắm cổ phần chi phối trên 50% hoặc công ty con mà thương nhân đầu mối có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó hoặc có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó nhưng tỷ lệ góp vốn của doanh nghiệp đầu mối thấp hơn 50%) (Khoản 4 Điều 11).

Trước đây: Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/07/2013 của Chính phủ; tại Điều 15 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính thì người nộp thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu là Công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối, chi nhánh của công ty đầu mối, đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc đơn vị đầu mối; các Công ty cổ phần do đơn vị đầu mối nắm cổ phần chi phối (trên 50% cổ phần) hoặc các Chi nhánh trực thuộc các đơn vị thành viên, các Chi nhánh trực thuộc các Công ty cổ phần.

Với quy định này, chỉ các công ty con mà đơn vị đầu mối nắm cổ phần chi phối trên 50% mới thuộc đối tượng phải khai, nộp thuế bảo vệ môi trường. Trường hợp một Công ty vẫn đáp ứng tiêu chí là công ty con của doanh nghiệp đầu mối theo quy định tại Luật Doanh nghiệp (như vẫn có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó hoặc có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó) nhưng tỷ lệ góp vốn của doanh nghiệp đầu mối thấp hơn 50% nên không thuộc đối tượng phải khai, nộp thuế bảo vệ môi trường.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định về phân bổ số thuế bảo vệ môi trường phải nộp đối với mặt hàng xăng dầu cho từng địa phương nơi có đơn vị phụ thuộc đóng trụ sở trong trường hợp thương nhân đầu mối hoặc công ty của thương nhân đầu mối có đơn vị phụ thuộc kinh doanh tại địa phương khác tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với nơi thương nhân đầu mối, công ty con của thương nhân đầu mối đóng trụ sở mà đơn vị phụ thuộc không hạch toán kế toán để khai riêng được thuế bảo vệ môi trường (Khoản 4 Điều 11).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Bổ sung Phụ lục bảng phân bổ số thuế bảo vệ môi trường phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với xăng dầu (tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Chưa có quy định này.

5.13. Về khai phí, lệ phí và các khoản thu khác do cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện thu quy định tại Điều 12

Điểm mới: Bổ sung quy định Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao được ủy quyền thực hiện kê khai phí, lệ phí và các khoản thu khác do các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thu được và nộp hồ sơ khai phí, lệ phí và các khoản thu khác cho cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính.

- Hồ sơ khai thuế, hồ sơ khai quyết toán thuế theo quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

- Thời hạn nộp hồ sơ khai quý và quyết toán thuế theo quy định tại Điều 44 Luật Quản lý thuế.

Trước đây: Không có quy định Bộ Ngoại giao phải thực hiện nộp tờ khai theo quý, quyết toán năm đối với khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác do các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thu.

5.14. Về khai thuế thu nhập cá nhân và thuế, các khoản thu khác của hộ kinh doanh, cá nhân cho thuê tài sản

a) Về hồ sơ khai thuế:

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý thì vẫn phải khai thuế (điểm b Khoản 3 Điều 7).

Trước đây: Theo quy định tại điểm a.1 khoản 1 Điều 16 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý thì không phải khai thuế.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân thì cá nhân không trực tiếp khai thuế. Tổ chức có trách nhiệm khai thuế giá trị gia tăng đối với toàn bộ doanh thu của hoạt động hợp tác kinh doanh theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế của tổ chức mà không phân biệt hình thức phân chia kết quả hợp tác kinh doanh, đồng thời khai thay và nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân hợp tác kinh doanh. Trường hợp tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định tại khoản 5 Điều 51 Luật Quản lý thuế, mà cá nhân có ngành nghề đang hoạt động cùng với ngành nghề hợp tác kinh doanh với tổ chức thì tổ chức và cá nhân tự thực hiện khai thuế tương ứng với kết quả thực tế hợp tác kinh doanh theo quy định (Điểm c Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Căn cứ các quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015, Thông tư số 39/2014/TT-BTC, Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn: Công ty TNHH Grab Taxi (công ty Grab Taxi hoạt động theo mô hình hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực vận tải) như sau: Công ty khi ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác (tổ chức, cá nhân) nhận phần doanh thu được chia từ hoạt động vận tải có trách nhiệm tính thuế giá trị gia tăng 10% trên doanh thu được chia, kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu được chia. Đối với phần doanh thu của đối tác là cá nhân: Công ty khấu trừ thuế giá trị gia tăng 3%, thuế thu nhập cá nhân 1,5% đồng thời khai và nộp thuế thay cho cá nhân; Đối với phần doanh thu của đối tác là tổ chức: Tùy vào phương pháp kê khai thuế giá trị gia tăng của đối tác (trực tiếp, khấu trừ), Công ty có trách nhiệm lập hóa đơn tương ứng; căn cứ vào thực tế hợp đồng hợp tác, Công ty sẽ phân chia doanh thu cho đối tác để Công ty và đối tác kê khai thuế theo quy định.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định về tổ chức khai thuế thay và nộp thuế thay cho cá nhân nhận cổ tức bằng chứng khoán; cá nhân là cổ đông hiện hữu nhận thưởng bằng chứng khoán; cá nhân được ghi nhận phần vốn tăng thêm do lợi tức ghi tăng vốn; cá nhân góp vốn bằng bất động sản, phần vốn góp, chứng khoán. Thời điểm khai thuế thay và nộp thuế thay được hiện khi cá nhân phát sinh chuyển nhượng chứng khoán cùng loại, chuyển nhượng vốn, rút vốn (Điểm d Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Tại Khoản 9, 10 Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định: Cá nhân nhận cổ tức bằng chứng khoán; cá nhân là cổ đông hiện hữu nhận thưởng bằng chứng khoán; cá nhân được ghi nhận phần vốn tăng thêm do lợi tức ghi tăng vốn; cá nhân góp vốn bằng bất động sản, phần vốn góp, chứng khoán thì phải trực tiếp khai và nộp thuế thu nhập cá nhân. Thời điểm cá nhân trực tiếp khai được thực hiện khi cá nhân phát sinh chuyển nhượng chứng khoán cùng loại, chuyển nhượng vốn, rút vốn thì phải trực tiếp khai và nộp thuế thu nhập cá nhân.

Điểm mới 4: Bổ sung quy định đối với tổ chức chi trả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền khác cho cá nhân là các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thì tổ chức có trách nhiệm khai thuế thay và nộp thuế thay cho cá nhân theo quy định (Điểm đ Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Để xử lý vướng mắc, căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015, Tổng cục Thuế ban hành một số công văn tạm thời hướng dẫn tổ chức không khấu trừ thuế, không phải khai thay, nộp thay thuế cho cá nhân trong trường hợp chiết khấu thương mại.

Điểm mới 5: Sửa đổi quy định bên mua bất động sản mà trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán (trừ trường hợp được miễn thuế, không phải nộp thuế hoặc tạm thời chưa phải nộp thuế) thì bên mua có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho bên bán theo quy định (Điểm g Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Tại khoản 11 Điều 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định trong hợp đồng chuyển nhượng có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì bên mua có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho bên bán, không loại trừ trường hợp được miễn thuế, không phải nộp thuế hoặc tạm thời chưa phải nộp thuế.

b) Về các loại thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế và khai quyết toán thuế quy định tại Điều 8

Điểm mới 1:

Sửa đổi quy định về tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thực hiện khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng. Trường hợp tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập đủ điều kiện khai thuế giá trị gia tăng theo quý thì được lựa chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo quý (Điểm a Khoản 1 Điều 8).

Trước đây: Tại Điểm a.2 Khoản 1 Điều 16 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phát sinh số thuế khấu trừ trong tháng của ít nhất một loại tờ khai thuế thu nhập cá nhân từ 50 triệu đồng trở lên khai thuế theo tháng, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khai thuế giá trị gia tăng theo quý.

Điểm mới 2:

Sửa đổi quy định về cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện trực tiếp khai thuế được tự lựa chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng hoặc quý (Điểm a, c Khoản 1 Điều 8).

Trước đây: Tại Khoản 3 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC quy định: Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý.

Điểm mới 3:

Sửa đổi quy định về ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có) (Điểm d.1 Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC chỉ quy định người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả. Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả.

c) Về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế quy định tại Điều 11

Điểm mới 1: Bổ sung quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với cá nhân có thu nhập từ việc cho thuê bất động sản tại nước ngoài tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi cá nhân cư trú (Điểm g khoản 6 Điều 11).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Bổ sung khái niệm nhà ở, nhà ở thương mại bao gồm cả công trình xây dựng, nhà ở đã được dự án bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật về nhà ở (Điểm đ.2 Khoản 6 Điều 11).

Trước đây: Khái niệm nhà ở, nhà ở thương mại được quy định tại văn bản pháp luật về nhà ở (Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở).

Điểm mới 3: Bổ sung quy định địa điểm nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập tiền lương, tiền công tại hai nơi trở lên trong trường hợp vừa có thu nhập thuộc diện khai trực tiếp, vừa có thu nhập do tổ chức chi trả đã khấu trừ thì cá nhân nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế nơi có nguồn thu nhập lớn nhất trong năm (Điểm b.1 Khoản 7 Điều 11).

Trước đây: Tại Khoản 3 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC quy định: Các trường hợp có thu nhập từ hai nơi trở lên (không phân biệt trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện tự khai đồng thời có thu nhập thuộc diện khấu trừ tại nguồn) thì nơi nộp hồ sơ quyết toán được xác định theo theo nơi tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân, trường hợp không nơi nào tính giảm trừ cho bản thân thì xác định theo Chi cục Thuế nơi cá nhân cư trú.

d) Về các trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế, thông báo nộp thuế quy định tại Điều 13

Điểm mới 1: Bỏ thủ tục Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn, cá nhân có thu nhập từ nhận cổ tức bằng cổ phiếu, lợi tức ghi tăng vốn khi chuyển nhượng (Khoản 1, 2 Điều 13).

Trước đây: Tại Phụ lục 02 Danh mục mẫu biểu đối với cá nhân kinh doanh và mẫu biểu đối với thuế thu nhập cá nhân ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính quy định: Cơ quan thuế phải thông báo tiền thuế phải nộp đối với các trường hợp cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn, cá nhân có thu nhập từ nhận cổ tức bằng cổ phiếu, lợi tức ghi tăng vốn khi chuyển nhượng.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định cơ quan thuế khi nhận được hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản của người nộp thuế có trách nhiệm gửi văn bản theo Mẫu 01/CCTT-TĐMN ban hành kèm theo Phụ lục II Nghị định 126/2020/NĐ-CP đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin địa chính làm căn cứ ban hành thông báo nộp tiền gửi cho người nộp thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ khai thuế của người nộp thuế (Điểm c khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan thuế có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, bổ sung thông tin đối với trường hợp cơ quan thuế tiếp nhận phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quyết định, thông báo, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp pháp, không đầy đủ theo quy định (Khoản 8 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

5.15. Về khai, tính, ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất

Điểm mới 1: Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc quản lý thuế đối với tiền sử dụng đất phát sinh trong khu kinh tế, khu công nghệ cao sau khi nhận được Thông báo nộp tiền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm đôn đốc người nộp thuế nộp tiền vào NSNN đúng thời hạn, số tiền ghi trên thông báo; tính tiền chậm nộp, cưỡng chế nợ theo quy định của Luật Quản lý thuế (nếu có) và tổng hợp đầy đủ số thu tiền sử dụng đất vào báo cáo thu NSNN (Điểm b Khoản 12 Điều 13).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Sửa đổi các mẫu thông báo nộp tiền sử dụng đất để áp dụng cho trường hợp được gia hạn, không được gia hạn, trường hợp thông báo lần đầu hoặc bổ sung, điều chỉnh (Khoản 13 Điều 13Phụ lục II kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Tại Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định mẫu số 01 Thông báo nộp tiền sử dụng đất và không phân biệt trường hợp được gia hạn, không được gia hạn, trường hợp thông báo lần đầu hoặc bổ sung, điều chỉnh.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định về ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước (điểm b Khoản 6 Điều 10).

- Trường hợp được Nhà nước giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất là ngày quyết định giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế.

Trước đây:

- Tại khoản 4a Điều 24 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP quy định: “Ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật”.

- Tại khoản 4a Điều 18 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: “Ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đối với trường hợp tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án là ngày quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành. Trường hợp thời điểm bàn giao đất không đúng với thời điểm ghi trong quyết định giao đất thì ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước là ngày bàn giao đất thực tế”.

Điểm mới 4: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan tài chính phải xác định các khoản mà người nộp thuế được trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp gửi cơ quan thuế chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến (Điểm b khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 5: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan thuế có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, bổ sung thông tin đối với trường hợp cơ quan thuế tiếp nhận phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quyết định, thông báo, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp pháp, không đầy đủ theo quy định (Khoản 8 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

5.16. Về khai, tính, ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước

Điểm mới 1: Bổ sung quy định thời hạn nộp hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước trường hợp chưa có quyết định cho thuê, hợp đồng cho thuê đất, thuê mặt nước: thời hạn nộp hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày sử dụng đất vào mục đích thuộc đối tượng phải thuê đất, thuê mặt nước (điểm b Khoản 5 Điều 10).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với trường hợp trong năm có sự thay đổi các yếu tố để xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất, thuê mặt nước tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo cơ chế một cửa liên thông nơi có đất thuộc đối tượng chịu thuế (điểm d, Khoản 7 Điều 11).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan tài chính phải xác định các khoản mà người nộp thuế được trừ vào tiền thuê đất, thuê mặt nước phải nộp gửi cơ quan thuế chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến (Điểm b Khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 4: Bổ sung quy định cơ quan thuế khi nhận được hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước của người nộp thuế có trách nhiệm gửi văn bản theo Mẫu 01/CCTT-TĐMN ban hành kèm theo Phụ lục II Nghị định 126/2020/NĐ-CP đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin địa chính làm căn cứ ban hành thông báo nộp tiền thuê mặt đất, mặt nước gửi cho người nộp thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ khai thuế của người nộp thuế (Điểm c Khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.                                                                   

Điểm mới 5: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan thuế có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, bổ sung thông tin đối với trường hợp cơ quan thuế tiếp nhận phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quyết định, thông báo, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp pháp, không đầy đủ theo quy định (Khoản 8 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 6: Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc quản lý thuế đối với tiền thuê đất, thuê mặt nước phát sinh trong khu kinh tế, khu công nghệ cao sau khi nhận được Thông báo nộp tiền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm đôn đốc người nộp thuế nộp tiền vào NSNN đúng thời hạn, số tiền ghi trên thông báo; tính tiền chậm nộp, cưỡng chế nợ theo quy định của Luật Quản lý thuế (nếu có) và tổng hợp đầy đủ số thu vào báo cáo thu NSNN (Điểm b Khoản 12 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

5.17. Về khai, tính, ban hành thông báo nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về địa điểm tiếp nhận hồ sơ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ khai thuế tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại cơ chế một cửa liên thông nơi có đất thuộc đối tượng chịu thuế. Trường hợp cơ chế một cửa liên thông không có quy định thì nộp hồ sơ đến cơ quan thuế nơi có đất thuộc đối tượng chịu thuế” (điểm a1 Khoản 7 Điều 11).

Trước đây:

- Điều 18 Thông tư số 156/2013/TT-BTC:

+ Tại Điểm c.1 Khoản 1 quy định: Người nộp thuế là tổ chức thực hiện kê khai và nộp hồ sơ khai thuế tại Chi cục Thuế nơi có đất chịu thuế.

+ Tại Điểm c.2 Khoản 1 quy định: Người nộp thuế là hộ gia đình, cá nhân thực hiện kê khai và nộp hồ sơ khai thuế tại UBND cấp xã hoặc Chi cục Thuế nơi có đất chịu thuế hoặc tại tổ chức, cá nhân được cơ quan thuế ủy quyền theo quy định của pháp luật tương ứng theo từng trường hợp cụ thể.

+ Tại Điểm b.3 Khoản 1 quy định: Người nộp thuế thuộc diện phải kê khai tổng hợp thì phải nộp tờ khai tổng hợp tại Chi cục Thuế nơi người nộp thuế đã chọn và đăng ký.

- Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT quy định hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính bao gồm “Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tương ứng với từng trường hợp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế (bản chính)”.

Điểm mới 2: Sửa quy định Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm xác nhận thông tin khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo đề nghị của người nộp thuế hoặc của cơ quan quản lý thuế (Điểm c7 Khoản 11 Điều 13).

Trước đây: Tại Điểm b.1 Khoản 1 Điều 18 Thông tư số 156/2013/TT-BTC:

- Đối với hồ sơ khai thuế đất ở của hộ gia đình, cá nhân, UBND cấp xã xác định các chỉ tiêu tại phần xác định của cơ quan chức năng trên tờ khai và chuyển cho Chi cục Thuế để làm căn cứ tính thuế.

- Đối với hồ sơ khai thuế của tổ chức, trường hợp cần làm rõ một số chỉ tiêu liên quan làm căn cứ tính thuế theo đề nghị của cơ quan Thuế, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xác nhận và gửi cơ quan Thuế.

Điểm mới 3: Bổ sung thời gian xác nhận thông tin khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho người nộp thuế của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của người nộp thuế hoặc của cơ quan quản lý thuế (Điểm c7 Khoản 11 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 4: Bổ sung Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất mẫu số 04/TK-SDDPNN theo Danh mục tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP.

Trước đây: chưa có quy định này.

5.18. Về tiếp nhận và ban hành thông báo nộp các khoản tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tiền sử dụng khu vực biển

Điểm mới 1: Bổ sung quy định về thời hạn gửi quyết định, thông báo, văn bản về tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tiền sử dụng khu vực biển từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho Cục Thuế nơi có hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác tài nguyên nước, sử dụng khu vực biển chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định, thông báo, văn bản (Khoản 7 Điều 10).

Trước đây: Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, Nghị định số 67/2019/NĐ-CP ngày 31/7/2019 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên khoáng sản, Thông tư liên tịch số 198/2015/TTL-BTNMT ngày 7/12/2015 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định phương pháp tính, phương thức thu, chế độ quản lý và sử dụng tiền sử dụng khu vực biển quy định thời hạn gửi quyết định, thông báo, văn bản về tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên cho Cục Thuế là khác nhau.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định chậm nhất là ngày 30 tháng 4 hàng năm, cơ quan thuế ban hành thông báo nộp tiền của các năm tiếp theo đối với trường hợp nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tiền sử dụng khu vực biển theo hình thức trả tiền hàng năm (điểm b Khoản 7 Điều 13).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định thời hạn cơ quan thuế ban hành thông báo nộp thuế và gửi thông báo nộp thuế cho người nộp thuế đối với tiền sử dụng khu vực biển chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, thông báo hoặc văn bản hợp pháp, đầy đủ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển đến (Điểm a Khoản 7 Điều 13).

Trước đây: Tại khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 198/2015/TTLT-BTNMT ngày 7/12/2015 của Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định phương pháp tính, phương pháp thu, chế độ quản lý và sử dụng tiền sử dụng khu vực biển quy định thời hạn là 03 ngày.

5.19. Về khai, tính, ban hành thông báo nộp lệ phí trước bạ

Điểm mới 1: Bổ sung Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ đối với tài sản khác trừ nhà, đất theo mẫu số 02/TB-LPTB tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP (được tách từ Tờ khai lệ phí trước bạ đối với tài sản khác (trừ nhà, đất).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Sửa đổi thành phần hồ sơ khai lệ phí trước bạ là Bản sao giấy đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của chủ cũ hoặc Bản sao Giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe của cơ quan Công an xác nhận (đối với tài sản đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tại Việt Nam từ lần thứ 2 trở đi) (Tại điểm 12 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Tại điểm b Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 20/2019/NĐ-CP quy định là bản sao hợp lệ giấy đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của chủ cũ (đối với tài sản đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tại Việt Nam từ lần thứ 2 trở đi).

Điểm mới 3: Sửa đổi về thời hạn cơ quan thuế ban hành Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất gửi người nộp thuế là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển đến (điểm a khoản 6 Điều 13).

Trước đây: Theo Khoản 4 Điều 10 Nghị định 140/2016/NĐ-CP quy định: Chi cục Thuế ra thông báo nộp lệ phí trước bạ trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

5.20. Về khai phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

Điểm mới: Bổ sung quy định người nộp thuế là tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản hoặc tổ chức thu mua gồm khoáng sản đăng ký nộp thay người khai thác thực hiện khai phí bảo vệ môi trường theo từng lần phát sinh đối với hoạt động khai thác khoáng sản không thường xuyên đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoặc không thuộc trường hợp phải cấp phép theo quy định của pháp luật (điểm k Khoản 4 Điều 8).

Trước đây: Tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 164/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản chưa có quy định khai phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo từng lần phát sinh.

5.21. Về khai, tính, ban hành Thông báo nộp lệ phí môn bài

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về người nộp lệ phí môn bài (trừ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh) mới thành lập (bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ hộ kinh doanh) hoặc có thành lập thêm đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh hoặc bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh (gọi chung là tổ chức) thực hiện nộp hồ sơ khai lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30 tháng 01 năm sau năm thành lập hoặc bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh (điểm a Khoản 1 Điều 10).

Trước đây: Tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 22/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định: Đối với tổ chức thì thời hạn nộp hồ sơ khai lệ phí môn là trước ngày ngày 30 tháng 01 năm sau năm thành lập hoặc bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định trường hợp trong năm có thay đổi về vốn thì người nộp lệ phí môn bài nộp hồ sơ khai lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30 tháng 01 năm sau năm phát sinh thông tin thay đổi (điểm a Khoản 1 Điều 10).

Trước đây: Không có quy định khai lệ phí môn bài đối với trường hợp trong năm có thay đổi về vốn.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định về hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không phải nộp hồ sơ khai lệ phí môn bài (điểm b Khoản 1 Điều 10).

Trước đây: Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 22/2020/NĐ-CP quy định: Hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân nộp thuế theo phương pháp khoán thì không phải khai lệ phí môn bài.

5.22. Về khai phí, lệ phí khác thuộc ngân sách nhà nước

Điểm mới 1: Bỏ quy định về khai quyết toán đối với lệ phí.

Điểm mới 2: Quy định về khai phí hải quan; lệ phí hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải quá cảnh: Bỏ quy định người nộp thuế nộp hồ sơ khai phí, lệ phí đối với phí hải quan; lệ phí hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải quá cảnh với cơ quan thuế (tại điểm i Khoản 5 Điều 7; điểm đ Khoản 1, điểm đ Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Tại Điều 20 và Điều 25 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP quy định: Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí hải quan; lệ phí hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải quá cảnh nộp hồ sơ khai phí, lệ phí cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

5.23. Thuế nhà thầu nước ngoài

Điểm mới 1: Bổ sung quy định đối với trường hợp khai thuế thu nhập doanh nghiệp của hãng vận tải nước ngoài tạm nộp theo quý và quyết toán theo năm thì tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của ba quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm áp dụng bắt đầu từ kỳ tính thuế năm 2021. Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số phải tạm nộp 3 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp theo quy định (điểm g Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Bổ sung bảng phân bổ số thuế giá trị gia tăng phải nộp của nhà thầu nước ngoài cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu tại hồ sơ khai thuế của Nhà thầu nước ngoài đối với phương pháp trực tiếp (tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Chưa có quy định này.

5.24. Các quy định khác về khai thuế, tính thuế

Điểm mới 1: Bổ sung quy định về các trường hợp người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế gồm: Người nộp thuế chỉ có hoạt động, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế đối với từng loại thuế; Người nộp thuế nộp hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế, trừ trường hợp chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng, tổ chức lại doanh nghiệp theo quy định của khoản 4 Điều 44 Luật Quản lý thuế (điểm a, đ Khoản 3 Điều 7).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện khai thuế thay, nộp thuế thay cho người nộp thuế phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định về khai thuế, nộp thuế như quy định đối với người nộp thuế (Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Bổ sung quy định người nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế nơi chuyển đi trong trường hợp đến thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng người nộp thuế chưa hoàn thành thủ tục thay đổi địa chỉ trụ sở với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký hợp tác xã hoặc cơ quan thuế nơi chuyển đến (Khoản 6 Điều 7).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 4: Không quy định cụ thể cơ quan thuế tiếp nhận và xử lý hồ sơ khai thuế là Cục Thuế hoặc Chi cục Thuế hoặc Cục trưởng Cục Thuế quyết định nơi nộp hồ sơ khai thuế mà chỉ quy định cơ quan thuế thuộc địa bàn nơi nộp hồ sơ (Điều 11).

Trước đây: Tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC và các Thông tư sửa đổi, bổ sung có quy định cụ thể cơ quan thuế tiếp nhận và xử lý hồ sơ khai thuế là Cục Thuế hoặc Chi cục Thuế hoặc Cục trưởng Cục Thuế quyết định nơi nộp hồ sơ khai thuế.

Điểm mới 5: Bổ sung quy định một số người nộp thuế mặc dù thực hiện hạch toán tập trung tại trụ sở chính và có hoạt động, kinh doanh trên nhiều địa bàn cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính nhưng không phải nộp Bảng phân bổ số thuế phải nộp (nếu có) theo từng địa bàn cấp tỉnh nơi được hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước (điểm a, b, d, đ, e Khoản 2 Điều 11).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 6: Bổ sung quy định căn cứ tình hình thực tế trên địa bàn quản lý, trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp tỉnh quyết định phân cấp nguồn thu cho nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh trên cùng địa bàn cấp tỉnh với nơi người nộp thuế có trụ sở chính thì người nộp thuế thực hiện tính thuế, phân bổ thuế phải nộp cho địa bàn cấp huyện nơi phát sinh nguồn thu ( Khoản 9 Điều 11).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 7: Sửa đổi quy định trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) mà doanh nghiệp chuyển đổi kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp được chuyển đổi thì không phải khai quyết toán thuế đến thời điểm có quyết định về việc chuyển đổi doanh nghiệp, doanh nghiệp khai quyết toán khi kết thúc năm (Khoản 6 Điều 8).

Trước đây:

- Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính quy định: Trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mà bên tiếp nhận kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi (như chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ Công ty TNHH sang Công ty cổ phần hoặc ngược lại; chuyển đổi Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật) thì không phải khai quyết toán thuế đến thời điểm có quyết định về việc chuyển đổi, doanh nghiệp chỉ khai quyết toán thuế năm theo quy định.

- Tại Khoản 1 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính quy định: Trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mà bên tiếp nhận kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi (như chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ Công ty trách nhiệm hữu hạn sang Công ty cổ phần hoặc ngược lại; chuyển đổi Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật) thì doanh nghiệp trước chuyển đổi không phải khai quyết toán thuế đến thời điểm có quyết định về việc chuyển đổi doanh nghiệp, bên tiếp nhận thực hiện khai quyết toán thuế năm theo quy định.”

6. Về ấn định thuế

Điểm mới 1: Bổ sung một số trường hợp ấn định thuế được quy định tại Điều 14 Nghị định, gồm: Không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế; Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường; Mua, trao đổi hàng hóa, dịch vụ sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn mà hàng hóa, dịch vụ là có thật theo xác định của cơ quan có chức năng điều tra, thanh tra, kiểm tra và đã được kê khai doanh thu, chi phí tính thuế (Điều 14)

Điểm mới 2: Quy định cụ thể căn cứ ấn định thuế đối với người nộp thuế là tổ chức: Căn cứ cơ sở dữ liệu của cơ quan quản lý thuế và cơ sở dữ liệu thương mại; tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực; kết quả xác minh; doanh thu tối thiểu của 03 cơ sở kinh doanh cùng mặt hàng, ngành, nghề, quy mô tại địa phương; trường hợp tại địa phương, cơ sở kinh doanh không có hoặc có nhưng không đủ thông tin về mặt hàng, ngành, nghề, quy mô cơ sở kinh doanh thì lấy thông tin của cơ sở kinh doanh tại địa phương khác có cùng điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế để thực hiện ấn định doanh thu tính thuế (khoản 1 Điều 15).

Trước đây: không có quy định số lượng doanh nghiệp cần lấy thông tin, thứ tự xác định doanh nghiệp lấy thông tin.

Điểm mới 3: Bổ sung thêm căn cứ ấn định thuế đối với cá nhân chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (điểm b.2, khoản 1, Điều 15).

Trước đây: Chưa có quy định.

Điểm mới 4: Bổ sung quy định người nộp thuế là tổ chức nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai bị ấn định số tiền thuế phải nộp theo tỷ lệ trên doanh thu theo quy định (Khoản 2 Điều 15)

Trước đây: Chưa có quy định.

Điểm mới 5: Quy định rõ về thẩm quyền, thủ tục và mẫu quyết định ấn định thuế (Điều 16).

Trước đây: Chưa có quy định này.

7. Về thời hạn nộp thuế đối với các khoản thu từ đất, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tiền sử dụng khu vực biển

7.1 Tiền thuê đất, thuê mặt nước

Điểm mới 1: Bổ sung thêm quy định thời hạn nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với hồ sơ khai điều chỉnh chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước (điểm a3, khoản 3 Điều 18).

Trước đây: chưa có quy định.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định thời hạn nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với trường hợp khác điều chỉnh các yếu tố liên quan đến việc xác định lại số tiền thuê đất, thuê mặt nước phải nộp, cụ thể là: Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước, người thuê đất, thuê mặt nước phải nộp 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước; Chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước, người thuê đất, thuê mặt nước phải nộp số tiền còn lại theo thông báo (điểm a.4 khoản 3 Điều 18).

Trước đây: chưa có quy định.

Điểm mới 3: Sửa đổi thời hạn nộp tiền đối với trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng và được cơ quan có thẩm quyền cho phép gia hạn sử dụng đất, thời hạn nộp: Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước, người thuê đất, thuê mặt nước phải nộp 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước theo thông báo; Chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước, người thuê đất, thuê mặt nước phải nộp số tiền còn lại theo thông báo (điểm a.4 khoản 3 Điều 18).

Trước đây: điểm c khoản 3 Điều 2 Thông tư số 333/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính chỉ quy định đối tượng được gia hạn thời gian sử dụng đất thực hiện thu một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản gia hạn thời gian sử dụng đất.

7.2 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Điểm mới 1: bổ sung thêm quy định nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp lần đầu: Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của cơ quan thuế (điểm a, khoản 1 Điều 18).

Trước đây: chưa có quy định.

Điểm mới 2: sửa đổi từ năm thứ hai trở đi, người nộp thuế nộp tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp một lần trong năm chậm nhất là ngày 31 tháng 10 (điểm a, khoản 1 Điều 18).

Trước đây: quy định nộp 2 lần trong năm.

Điểm mới 3: bổ sung quy định thời hạn nộp thuế đối với trường hợp khai điều chỉnh chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (điểm c, khoản 1 Điều 18).

Trước đây: chưa có quy định.

7.3. Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tiền sử dụng khu vực biển

a) Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Điểm mới: Thay đổi thời hạn nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (khoản 5 Điều 18 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP):

- Lần đầu chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày ban hành thông báo của cơ quan thuế;

- Từ năm thứ hai trở đi: (i) đối với trường hợp nộp một lần trong năm chậm nhất là 31 tháng 5; (ii) đối với trường hợp nộp hai lần trong năm kỳ thứ nhất nộp 50% chậm nhất là ngày 31 tháng 5; kỳ thứ hai nộp đủ phần còn lại chậm nhất là ngày 31 tháng 10.

Trước đây: Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được nộp hàng năm, chủ giấy phép lựa chọn phương thức nộp tiền theo tháng, quý hoặc theo năm.

b) Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

Điểm mới: Khoản 6 Điều 18 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định cụ thể số tiền phải nộp mỗi kỳ từ lần thứ hai trở đi trong trường hợp người nộp thuế chọn nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản hai lần trong năm như sau: kỳ thứ nhất nộp 50% chậm nhất là ngày 31 tháng 5; kỳ thứ hai nộp đủ phần còn lại chậm nhất là ngày 31 tháng 10.

Trước đây: Chưa có quy định.

c) Tiền sử dụng khu vực biển

Điểm mới:

Đối với trường hợp nộp tiền sử dụng khu vực biển hàng năm:

Thời hạn nộp tiền sử dụng khu vực biển lần đầu hoặc điều chỉnh theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày ban hành thông báo.

Kể từ năm thứ hai trở đi, người nộp thuế được chọn nộp tiền sử dụng khu vực biển một lần hoặc hai lần trong năm. Trường hợp người nộp thuế chọn nộp tiền sử dụng khu vực biển một lần trong năm thì thời hạn nộp tiền chậm nhất là ngày 31 tháng 5.

Trước đây: Chưa có quy định về thời hạn nộp tiền sử dụng khu vực biển lần đầu; người nộp thuế không được lựa chọn nộp một hoặc hai lần trong năm.

8. Về gia hạn nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản khi có vướng mắc về giải phóng mặt bằng thuê đất

Điểm mới: Tại Điều 20 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP đã quy định cụ thể về hồ sơ, thời gian, số tiền, trình tự giải quyết và thẩm quyền gia hạn nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản khi có vướng mắc về giải phóng mặt bằng thuê đất.

Trước đây: Không có quy định gia hạn nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản khi có vướng mắc về giải phóng mặt bằng thuê đất. Căn cứ Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP ngày 31/7/2019 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thì tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xem xét gia hạn khi vướng mắc giải phóng mặt bằng thuê đất thực hiện theo quy định về quản lý thuế.

9. Về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh

Điểm mới: Căn cứ Điều 66 và Khoản 7 Điều 124 Luật Quản lý thuế quy định về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, Nghị định đã quy định bổ sung trường hợp cá nhân là người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế là doanh nghiệp thuộc trường hợp đang bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì thuộc trường hợp tạm hoãn xuất cảnh.

Trước đây: Chỉ quy định người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế (khoản 1 Điều 40 Thông tư số 156/2013/TT-BTC).

10. Về khoanh tiền thuế nợ

Điểm mới: Điều 23 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định hồ sơ, thời gian và trình tự thủ tục khoanh nợ đối với trường hợp người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; giải thể; phá sản; không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ kinh doanh; bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Trước đây: Chưa có quy định.

11. Về phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh, chính quyền địa phương trong việc thực hiện xóa nợ, hoàn trả cho Nhà nước khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã được xóa trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Điểm mới: Điều 25 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan cấp đăng ký kinh doanh các cấp trong việc kiểm soát người nộp thuế đã được xóa nợ, nếu người nộp thuế đã được xóa nợ, muốn quay lại sản xuất kinh doanh thì phải hoàn trả lại cho nhà nước khoản tiền thuế đã được xóa.

Trước đây: Không có quy định về trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh đối với các trường hợp đã được xóa nợ thuế.

12. Về các biện pháp cưỡng chế nợ thuế

Điểm mới 1: Cơ quan thuế có quyền đề nghị cơ quan hải quan thực hiện biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (khoản 8 Điều 33 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Không quy định cơ quan thuế được đề nghị cơ quan hải quan thực hiện biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với người nộp thuế có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

Điểm mới 2: Đối với biện pháp cưỡng chế hóa đơn, trường hợp quyết định cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn hết hiệu lực mà người nộp thuế chưa nộp đủ số tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước, nếu không đủ điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế tiếp theo hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn mà có hiệu quả thì tiếp tục áp dụng biện pháp cưỡng chế có hiệu quả. Trường hợp đang áp dụng biện pháp cưỡng chế hóa đơn mà có thông tin, điều kiện thực hiện biện pháp cưỡng chế trước hoặc biện pháp cưỡng chế tiếp theo hiệu quả hơn thì cơ quan thuế đồng thời áp dụng biện pháp cưỡng chế trước hoặc biện pháp cưỡng chế tiếp theo để thu tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước (điểm b.2 khoản 3 Điều 34 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Không được áp dụng đồng thời biện pháp cưỡng chế hóa đơn với các biện pháp cưỡng chế khác.

Điểm mới 3: Quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành quyết định (Tại các Điều thuộc Chương VII Nghị định 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Quyết định cưỡng chế tài khoản có hiệu lực sau 05 ngày kể từ ngày ban hành (khoản 3 Điều 27 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP), quyết định cưỡng chế tài khoản có hiệu lực sau 03 ngày kể từ ngày ban hành quyết định (khoản 1 Điều 36 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP).

13. Về công khai thông tin

Điểm mới: Bổ sung các quy định: trường hợp công khai thông tin của người nộp thuế đối với trường hợp không nộp hồ sơ khai thuế, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; quy định nội dung và hình thức công khai của các thông tin của người nộp thuế; thẩm quyền quyết định việc công khai thông tin của người nộp thuế là thủ trưởng cơ quan quản lý thuế trực tiếp (Điều 29 Nghị định 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Chưa có quy định.

14. Về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin người nộp thuế

Điểm mới 1: Bổ sung cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin cho cơ quan thuế như: Các Bộ gồm: Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các Bộ và các cơ quan: Cơ quan kiểm toán; Tổng cục Thống kê; Cơ quan Bảo hiểm xã hội; Cơ quan tòa án, cơ quan trọng tài...(Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP)

Điểm mới 2: Bổ sung quy định Bộ Tài chính chủ trì, các bộ, ngành và cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính để xây dựng Quy chế trao đổi, cung cấp thông tin và phối hợp công tác giữa Bộ Tài chính với từng đơn vị để quy định nội dung, thời hạn, hình thức cung cấp thông tin (điểm c khoản 2 Điều 26).

Điểm mới 3: Bổ sung các thông tin cung cấp cho cơ quan thuế để thực hiện quản lý thuế (Khoản 2 Điều 26 Nghị định 126/2020/NĐ-CP) như:

- Thông tin các hoạt động thương mại điện tử, nhượng quyền thương mại, nội dung thông tin giấy phép hoạt động thương mại điện tử, nhượng quyền thương mại, thông tin liên quan trong quản lý thuế đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động thương mại điện tử.

- Thông tin đối với các khoản thu liên quan đến đất đai, tài sản gắn liền với đất, thông tin giấy phép cấp quyền khai thác tài nguyên, sản lượng khai thác trong năm theo từng giấy phép.

- Thông tin các hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng; cung cấp thông tin liên quan đối với hoạt động quảng cáo trên mạng; hoạt động mua bán sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin trên môi trường mạng, kinh doanh dựa trên nền tảng số...

Điểm mới 4: Bổ sung quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân có liên quan (Điều 27 Nghị định 126/2020/NĐ-CP):

- Bổ sung tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm cung cấp thông tin về chi trả thu nhập và số tiền thuế khấu trừ của người nộp thuế khi quyết toán thuế năm hoặc khi có yêu cầu của cơ quan quản lý thuế.

- Bổ sung cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm cung cấp thông tin trước khi bán đấu giá về hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế cho cơ quan hải quan để thực hiện ấn định thuế.

- Bổ sung thời hạn tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế là chậm nhất trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế.

Điểm mới 5: Quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp thông tin (Điều 28 Nghị định 126/2020/NĐ-CP).

- Bổ sung quy định khi cơ quan quản lý thuế yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 15 và khoản 2, khoản 4 Điều 98 Luật Quản lý thuế thì cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân phải cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn theo nội dung yêu cầu của cơ quan quản lý thuế.

- Bổ sung quy định các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm về việc không cung cấp thông tin đúng thời hạn hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ khi cơ quan quản lý thuế có yêu cầu làm ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ thuế hoặc thời gian giải quyết hoàn thuế, miễn, giảm thuế của người nộp thuế trong trường hợp phát sinh việc bồi thường cho người nộp thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 61 và khoản 3 Điều 75 Luật Quản lý thuế.

15. Về nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tại Điều 30

Điểm mới 1: Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại thực hiện thu nộp thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 56 Luật Quản lý thuế và Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20/1/2020 của Chính phủ quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước (Điểm a.1 Khoản 1 Điều 30).

Trước đây: Chưa có quy định.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại đối với số tiền thuế và khoản thu ngân sách nhà nước chậm nộp hoặc nộp không đầy đủ vào ngân sách nhà nước do lỗi của ngân hàng thương mại, thì ngân hàng thương mại phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế (điểm a.4 Khoản 1 Điều 30).

Trước đây: Tại Điểm b Khoản 4 Điều 5 Thông tư số 84/2016/TT-BTC quy định: Trường hợp ngân hàng thực hiện không đúng yêu cầu theo lệnh thanh toán của tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán; phối hợp với ngân hàng hoặc cơ quan kho bạc nhà nước có liên quan để thu hồi số tiền chuyển nhầm, chuyển thừa khi thực hiện các giao dịch thanh toán theo quy định của pháp luật; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại thực hiện thông báo, tra soát đến các đơn vị liên quan để xử lý đối với các trường hợp sai sót theo quy định và không được hoàn trả số tiền thuế đã nộp cho người nộp thuế nếu đã truyền thông tin cho Kho bạc Nhà nước. Riêng ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản thực hiện đối chiếu với Kho bạc Nhà nước về chứng từ nộp tiền vào ngân sách (Điểm a.5 Khoản 1 Điều 30).

Trước đây: Tại Điểm đ Khoản 1 Điều 17 Thông tư số 84/2016/TT-BTC quy định: Trường hợp người nộp thuế thực hiện trùng giao dịch nộp thuế điện tử gửi từ 2 lần trở lên cho 1 khoản nộp trong một ngày thì người nộp thuế liên hệ với ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước phục vụ người nộp thuế để đề nghị điều chỉnh lại còn một lần nộp thuế. Trường hợp số thuế của giao dịch trùng đã được hạch toán nộp vào ngân sách nhà nước, người nộp thuế được lựa chọn để số tiền đó nộp cho các khoản nghĩa vụ còn phải nộp hoặc đề nghị hoàn theo quy định của pháp luật quản lý thuế.

Điểm mới 4: Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của ngân hàng thương mại đã tham gia kết nối với Cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế thực hiện truy vấn thông tin theo mã định danh khoản thu tại Cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế để ghi trên chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước. Không được hủy lệnh chuyển tiền khi thông tin nộp thuế đã được chuyển đến Cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế (Điểm b.2 Khoản 1 Điều 30).

Trước đây: Chưa quy định cụ thể về nội dung này.

Điểm mới 5: Sửa đổi quy định hiện hành về nhiệm vụ của ngân hàng thương mại thực hiện xây dựng hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng chuẩn thông điệp dữ liệu trao đổi thông tin theo đúng định dạng các thông điệp cơ quan quản lý thuế ban hành. Bảo mật và chỉ sử dụng thông tin thu nộp ngân sách nhà nước của người nộp thuế, người khai hải quan do cơ quan quản lý thuế cung cấp trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế để thực hiện thu ngân sách nhà nước (Điểm b.3 Khoản 1 Điều 30).

Trước đây: Tại Điểm a, b Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 84/2016/TT-BTC quy định: Ngân hàng thương mại thực hiện thỏa thuận hợp tác phối hợp thu ngân sách với Tổng cục Thuế và có trách nhiệm khai thác và bảo mật thông tin liên quan đến thu nộp NSNN do cơ quan thuế cung cấp thông qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.

Điểm mới 6: Bổ sung trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trong thực hiện thu nộp thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (Điểm c Khoản 1 Điều 30).

Trước đây: Chưa có quy định cụ thể trách nhiệm đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trong thực hiện thu nộp thuế.

Điểm mới 7: Bổ sung quy định trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại Ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế (Khoản 2 Điều 30).

Trước đây: Chưa có quy định này.

16. Mua thông tin, tài liệu, dữ liệu của các đơn vị cung cấp để phục vụ công tác quản lý thuế

Điểm mới: Bổ sung quy định về mua tin, tài liệu, dữ liệu của các đơn vị cung cấp để phục vụ công tác quản lý thuế. Quy định này cho phép cơ quan thuế, cơ quan hải quan sử dụng kinh phí do NSNN cấp mua thông tin, tài liệu, dữ liệu của các đơn vị cung cấp để phục vụ công tác quản lý thuế, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, pháp luật về hải quan (Điều 40 Nghị định 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Chưa có quy định này.

17. Nội dung về cơ chế Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết (Điều 41)

17.1. Về quy định việc áp dụng thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế

Điểm mới: Bổ sung quy định việc áp dụng thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại khoản 6 Điều 42 Luật Quản lý thuế, cụ thể:

- Dựa trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế, sự thống nhất giữa cơ quan thuế và người nộp thuế theo thỏa thuận đơn phương, song phương và đa phương giữa cơ quan thuế, người nộp thuế và cơ quan thuế nước ngoài, vùng lãnh thổ có liên quan;

- Phải dựa trên thông tin của người nộp thuế, cơ sở dữ liệu thương mại có sự kiểm chứng bảo đảm tính pháp lý;

- Phải được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt trước khi thực hiện; đối với các thỏa thuận song phương, đa phương có sự tham gia của cơ quan thuế nước ngoài thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.

Trước đây: Chưa có quy định này.

17.2. Về các bước thủ tục/quy trình trong việc giải quyết đề nghị áp dụng APA

Điểm mới: Bổ sung quy định các bước thủ tục/quy trình trong việc giải quyết đề nghị áp dụng APA, bao gồm: Tham vấn trước khi nộp đơn đề nghị áp dụng APA chính thức (nếu có); Nộp đơn đề nghị áp dụng APA chính thức; Nộp đơn đề nghị tiến hành thủ tục thỏa thuận song phương (trong trường hợp đề nghị áp dụng APA song phương hoặc đa phương); Nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc nộp báo cáo APA thường niên (và báo cáo APA đột xuất nếu có); Các thủ tục đề nghị gia hạn, sửa đổi, thu hồi, hủy bỏ APA (nếu có).

Trước đây: Việc tham vấn ý kiến của Tổng cục Thuế trước khi nộp hồ sơ đề nghị áp dụng APA chính thức: Trước đây theo Điều 8 Thông tư số 201/2013/TT-BTC, bước tham vấn trước khi nộp hồ sơ chính thức là bắt buộc trong quy trình giải quyết đề nghị áp dụng APA của người nộp thuế. Nay theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP thì bước này là không bắt buộc mà tùy thuộc vào nhu cầu của người nộp thuế.

17.3. Quy định cụ thể về thẩm quyền phê duyệt, ký kết APA

Điểm mới: Trên cơ sở kết quả thẩm định, trao đổi, đàm phán với người nộp thuế (trong trường hợp APA đơn phương) hoặc với cơ quan thuế đối tác và người nộp thuế (trong trường hợp APA song phương hoặc APA đa phương) về nội dung APA, Tổng cục Thuế xây dựng dự thảo APA và trình lãnh đạo Bộ Tài chính phê duyệt, tiến hành ký kết APA. Đối với các thỏa thuận APA song phương, đa phương có sự tham gia của cơ quan thuế nước ngoài, Bộ Tài chính lấy ý kiến Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến về việc ký kết APA theo thủ tục và trình tự ký kết Điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế theo quy định pháp luật về việc ký kết Điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.

Trước đây: Nghị định số 83/2013/NĐ-CP trước đây quy định Bộ Tài chính phê duyệt và giao Tổng cục Thuế ký kết APA.

17.4. Về hiệu lực của APA

Điểm mới: Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của APA được thực hiện theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 Luật Quản lý thuế. Đối với các APA song phương hoặc đa phương có liên quan đến quản lý thuế của cơ quan quản lý thuế nước ngoài, Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.

Trước đây: Nghị định số 83/2013/NĐ-CP trước đây quy định APA đã ký có hiệu lực trong thời gian tối đa 05 năm và có thể được gia hạn không quá 05 năm tiếp theo; thời điểm bắt đầu hiệu lực không trước ngày người nộp thuế nộp đơn xin áp dụng APA./.

THE MINISTRY OF FINANCE
GENERAL DEPARTMENT OF TAXATION
--------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence– Freedom – Happiness
--------------------

No. 5189/TCT-CS
Re: introduction of new points of Decree No. 126/2020/ND-CP elaborating the Law on Tax Administration.

Hanoi, December 7, 2020

 

To: Departments of Taxation of provinces or central-affiliated cities

On June 13, 2019, the 14th National Assembly has passed the Law on Tax Administration No. 38/2019/QH14, coming into force as of July 1, 2020.

On October 19, 2020, the Government has promulgated the Government’s Decree No. 126/2020/ND-CP elaborating the Law on Tax Administration, coming into force as of December 5, 2020.

General Department of Taxation hereby introduces new points of the Government’s Decree No. 126/2020/ND-CP and requests Departments of Taxation to promptly disseminate and give notices to tax officials and taxpayers in the provinces and cities.

(Details are provided in the Appendix enclosed).

Difficulties that arise during the implementation of this Circular should be reported to General Department of Taxation for consideration./.

 

 

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

PP. DIRECTOR GENERAL
DEPUTY DIRECTOR GENERAL




Dang Ngoc Minh

 

APPENDIX

INTRODUCTION OF CERTAIN CONTENTS OF DECREE NO. 126/2020/ND-CP DATED OCTOBER 19, 2020 ON ELABORATION OF THE LAW ON TAX ADMINISTRATION
(Issued together with Official Dispatch No. 5189/TCT-CS dated December 7, 2020 of General Department of Taxation)

1. Scope

This Decree elaborates some Articles of the Law on Tax administration on management of taxes and other amounts payable to state budget (hereinafter referred to as “other amounts”), excluding regulations on tax administration of enterprises having related-party transactions, use of invoices and documentation, administrative penalties for tax-related offences, invoice-related offences and customs offences (specified in the Decrees mentioned in Decision No. QD-TTg dated July 26, 2019 of the Prime Minister).

2. Tax administration during taxpayer’s business suspension

a) Basis for determination of business suspension time or business resumption ahead of schedule provided for in clause 1, clause 3 Article 4

New point 1: Pursuant to Clause 1 Article 37 of the Law on Tax administration, the Decree requires that in case the business suspension is accepted, notified or requested by a competent authority, the business suspension time or business resumption ahead of schedule will be that written on the document issued by such competent authority. The tax authority shall not receive any application for business suspension or business resumption ahead of schedule from the taxpayer, but only receive the document sent by the aforementioned competent authority.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 2: Pursuant to clause 2 Article 37 of the Law on Tax administration. The Decree stipulates that if the taxpayer is an organization, household business or individual business that is not required to apply for business registration, the application for business suspension or business resumption ahead of schedule shall be sent to the tax authority at least 01 working day before the suspension date.

Before: Clause 1 Article 21 of the Circular No. 95/2016/TT-BTC requires 15 days for corporates and 1 working days for households, groups of individuals, self-employed individuals.

New point 3: Supplementing the time for processing and returning results of business suspension or business resumption ahead of schedule by the tax authority to corporates, household businesses, self-employed individuals that are not required to apply for business registration.

Before: There was no such regulation.

b) Tax administration during taxpayer’s business suspension prescribed in clause 2 Article 4

New point: Amend regulations on powers and responsibilities of tax authorities regarding tax administration and rights and responsibilities of taxpayers regarding tax administration during taxpayer’s business suspension.

Before:

Article 14 of Circular No. 151/2014/TT-BTC on amendments to point d clause 1 Article 10 of Circular No. 156/2013/TT-BTC dated November 6, 2013 of the Ministry of Finance on guidelines for the Law on Tax administration; the Law on amendments to the Law on Tax Administration and the Government’s Decree No. 83/2013/ND-CP dated July 22, 2013 of the Government (hereinafter referred to as Circular No. 156/2013/TT-BTC):

““dd) If the taxpayer’s business operation is suspended and tax is not incurred, the tax declaration for the suspension period might not be submitted. If the taxpayer’s business is not suspended over the whole calendar year or tax year, the annual tax statement must be submitted…”

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: Applying regulation on management of other amounts payable to state budget by tax authorities (hereinafter referred to as taxes).

3. Management of other amounts payable to state budget

New point: Based on regulations on other amounts payable to state budget in clause 2 (collected by tax authorities), clause 3 (not collected by tax authorities) of Article 3 of the Law on Tax Administration and the Law on Tax Administration requires the Government to, pursuant to provisions of the Law and relevant laws, provide for the application of regulations on tax collection of this Law to management of other amounts payable to state budget in clause 3 Article 151 of the Law on Tax Administration, the Decree stipulates the management of other amounts payable to state budget in Article 5.

Before: There was no such regulation.

4. Taxpayer registration

New point 1: Amend the regulation that in case of changes to information about the ID card or passport of a taxpayer that is an individual, the changes will be applied within 20 days (30 days for mountainous, bordering areas and islands) from the date written on the ID card or passport (clause 2 Article 6).

Before: The Law on Tax Administration stipulates the time limit for submission of application for amendments to tax registration information is 10 working days since the date of change.

New point 2: Amend the regulation that taxpayers shall complete relevant procedures with their supervisory tax authority before relocation of the headquarters to another province, in specific, they may offset the corporate income tax and post-tax profit that remain after making provisional fund contributions before the tax finalization dossier is submitted against the amount payable under the tax finalization dossier (clause 2 Article 6).

Before: Clause 2 Article 8 of Decree No. 83/2013/ND-CP does not stipulate that taxpayers may offset these amounts.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: Article 20 of the Circular No. 95/2016/TT-BTC stipulates that the taxpayer has to fully pay taxes and other amounts payable to state budget.

5. Tax declaration, tax calculation

5.1. Supplementation to tax declaration

New point 1: Amend the regulation that in case of supplementation of the income payer’s terminal personal income tax return, the erroneous monthly or quarterly tax return shall also be supplemented (point a clause 4 Article 7).

Before: Clause 5 Article 10 of Circular No. 156/2013/TT-BTC stipulates: If the annual tax finalization dossier has been submitted, only supplementation to the annual tax finalization dossier is required, the erroneous monthly or quarterly tax return is not required to be supplemented.

New point 2: Amend the regulation that the taxpayer may only increase the refundable VAT if the tax declaration dossier of the next period and the application for tax refund is not submitted (point b clause 4 Article 7).

Before: Based on regulations of Circular No. 156/2013/TT-BTC dated November 6, 2013 of the Ministry of Finance, the General Department of Taxation guides as follows: In case the deadline for tax declaration of the next tax period has not been reached and the taxpayer has not yet submitted a tax declaration to bring the deductible VAT amount to the next period to the item about deductible VAT carried from previous period onto the official declaration of the next tax period and has not submitted the claim for tax refund to the tax authority, it may make an additional item about claim for refund on the supplementary document of that tax period.

New point 3: Amend the regulation that the taxpayer may submit supplementary documents if the tax declaration dossier is found erroneous but the deadline for submission of tax declaration dossier has not reached (clause 4 Article 7).

Before: Point a clause 5 Article 10 of Circular No. 156/2013/TT-BTC stipulates: The taxpayer may submit supplementary documents if the tax declaration dossier is found erroneous even after the deadline for submission of tax declaration dossier.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 1: Supplement the regulation that if the taxpayer is authorized by the state to collect certain amounts, in which case VAT on such amounts shall be separately declared and if the taxpayer is authorized to manage business cooperation contracts without establishment of separate juridical persons, in which case tax on each contract shall be separately declared under these contracts (points a, c, dd clause 2 Article 7).

Before: There was no such regulation.

New point 2: Amend the regulation that if the taxpayer has operational investment projects eligible for VAT refund, in which case a VAT declaration dossier shall be separately prepared for each project and VAT on purchases of each project shall be offset against VAT payable (if any) in the same tax period.

If the project owner designates project management boards and branches in provinces other than the province where the project owner is headquartered to, on behalf of the project owner, manage one or multiple projects, such management boards or branches must submit separate tax declarations to the local tax authorities and offset the input VAT of the projects against the VAT payable on all business lines in the same tax period of the project owner and branches.

When the project to establish enterprise is complete as well and the procedure for business registration and tax registration completes, the investor in the project must provide the new company with information about the amounts of VAT that are new, refunded, and not refunded so that it can declare, pay tax, and claim tax refund with the supervisory tax authority.

(point d clause 2 Article 7 and point a clause 1 Article 11).

Before:

- Point b clause 2 Article 10 of Decree No. 209/2013/ND-CP dated December 18, 2013 of the Government, amended by clause 6 Article 1 of Decree No. 100/2016/ND-CP stipulates as follows: In the cases where a business establishment which pays VAT under credit-invoice method has a new investment project (other than commercial housing project) in different a province from that where its headquarters is located and it has not been put into operation, registered, and applied for tax registration, VAT on the investment project shall be refunded if VAT on goods/services purchased during investment stage that remains after being offset against VAT payable on the headquarters’ business operation is at least VND 300 million, except for the case specified in Point c of this Clause.  Tax on the investment project shall be separately declared and refund thereof shall be claimed separately.

- Point c clause 3 Article 11 of Circular No. 156/2013/TT-BTC and clause 3 Article 18 of Circular No. 219/2013/TT-BTC, amended by clause 3 Article 1 Circular No. 130/2016/TT-BTC stipulates as follows:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

The taxpayer shall make a separate tax declaration for the project and submit it at the supervisory tax authority of the headquarter. If the taxpayer is making investment in a project in another province than that of the headquarter, which is not put into operation, has not applied for business registration and/or tax registration, the taxpayer shall make a separate tax declaration for the project and submit it at the supervisory tax authority of the headquarter.  If the taxpayer establishes project management boards or branches in the other province to manage one or multiple projects, such management boards or branches must submit separate tax declarations to the local tax authorities if they have the seal, keep accounting records, deposit accounts at banks, have applied for tax registration and issued with TINs. 

When the project and the procedure for business registration and tax registration is complete, the investor in the project must provide the new company with information about the amounts of VAT that are new, refunded, and not refunded so that it can declare, pay tax, and claim tax refund with the supervisory tax authority.

Where the taxpayer has a project of investment and offset VAT on purchased goods and services serving the project against VAT on the current business, then VAT on the project of investment shall be declared monthly or quarterly at the same time with the headquarter.”

New point 3: Amend the regulation that a taxpayer is not required to declare tax if the taxpayer only has business operations that are not subject to any tax as prescribed in law on VAT or the taxpayer is an export processing enterprise that only exports (point a, c clause 3 Article 7).

Before:

Pursuant to Circular No. 156/2013/TT-BTC, the General Department of Taxation guides that: If the taxpayer only has business operations that are not subject to VAT, it is not required to declare and pay VAT. If the taxpayer sells any good or service subject to VAT (for example: asset liquidation, etc.), the taxpayer shall use the invoice of the tax authority and pay VAT as required.

New point 4: Amend the regulation related to quarterly declaration of VAT on revenue from sale of ancillary industry products on the list of ancillary industry products prioritized for development of more than VND 50 billion per year (Article 9).

Before:

Clause 1 Article 3 of Circular No. 21/2016/TT-BTC stipulates: A taxpayer shall declare value-added tax (VAT) on a quarterly basis for revenue from ancillary industry products on the list of ancillary industry products prioritized for development (regardless of whether such revenue is over or under VND 50 billion per year).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before:

- Clause 3 Article 4 of Decree No. 91/2014/ND-CP only stipulates the rule that declarations shall be made quarterly by the taxpayers whose revenue in the previous year is 50 billion VND or lower.

- Article 15 of Circular No. 151/2014/TT-BTC dated October 10, 2014 of the Ministry of Finance stipulates: VAT shall be declared monthly or quarterly throughout the calendar year and the 3-year period, in case a taxpayer fulfills the requirements for quarterly declaration but wishes to declare tax monthly, the taxpayer shall submit a written request to the supervisory tax authority; in case a taxpayer, during declaring quarterly, finds that the requirements for quarterly declaration are not fulfilled, the taxpayer shall specify the difference between monthly declared tax and quarterly declared tax from the year succeeding the year in which the revenue is discovered to the end of stable period.

New point 6: Amend the regulation that a taxpayer that does accounting mainly at the headquarters and has dependent units or places of business in other provinces shall declare tax in the province in which the headquarters are based and apportion tax incurred in each province. (Clause 2 Article 11).

Before:

- Clause 1 Article 11 of Circular No. 156/2013/TT-BTC stipulates that: Where a manufacturing division situated in another province than that of the headquarter that does not directly sell goods and thus does not earn any revenue, does not keep accounting records at the headquarters but it is required to apportion the amount of tax payable among the manufacturing divisions.

- Points b, c clause 11 Article 11 of Circular No. 156/2013/TT-BTC and point a clause 1 Article 2 of Circular No. 26/2015/TT-BTC stipulates: VAT declaration in areas where the businesses take place: extra provincial construction, installation, sale, real estate transfer (with revenue under VND 1 billion; except for interprovincial works or real estate business projects), owners of ODA projects that are not eligible for VAT refund and foreign contractors that execute ODA projects eligible for VAT refund (except interprovincial projects).

 New point 7: Amend the regulation that the VAT on transfer of real estate or an infrastructure or housing development project for transfer (even if progress payments are collected) in a province other than the province where the taxpayer is headquartered shall be declared at the tax authority where the transfer takes place (point b clause 1 Article 11).

Before: Point c clause 1 Article 11 of Circular No. 156/2013/TT-BTC stipulates: Where the taxpayer plans to sell real estate in another province than that of the taxpayer’s headquarter and establishes an affiliate (branch, management board, etc.), then the taxpayer must apply for tax registration and use credit-invoice method to pay the tax on real estate trading to the tax authority of the locality where real estate is sold. If the taxpayer does not establish an affiliate (branch, management board, etc.), the taxpayer must declare and pay tax at the tax authority that manages its headquarter.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before:

- Point b clause 2 Article 11 of Decree No. 83/2013/ND-CP and clause 2 Article 5 of Decree No. 12/2015/ND-CP stipulates the VAT declaration dossier (monthly, quarterly or by each occurrence) is the VAT declaration form (monthly, quarterly or by each occurrence).

- Point e clause 1 Article 2 of Circular No. 26/2015/TT-BTC stipulates the VAT declaration dossier using credit-invoice method at the headquarters in case of extra provincial business must include the table of paid VAT on revenue from extra provincial business form No. 01-5/GTGT.

- Article 15 of Circular No. 151/2014/TT-BTC stipulates the change from quarterly tax period to monthly tax period must have a notice of change from quarterly declaration to monthly declaration form No. 07/GTGT. The notice of application of VAT calculation method form No. 06/GTGT has been annulled in Circular No. 93/2017/TT-BTC.

5.3. Declaration of excise tax (except for excise tax on lottery business)

New point: Supplement a separate excise tax declaration dossier for biofuel manufacturing and blending establishments (List of tax declaration in Appendix I issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: The Decree No. 14/2019/ND-CP dated February 1, 2019 of the Government has not stipulated a separate tax declaration dossier for biofuel manufacturing and blending establishments but these establishments will use the general tax declaration for all products subject to excise tax.

5.4. Declaration of corporate income tax (except for corporate income tax on petroleum exploration and extraction):

New point 1: Amend the regulation that declaration of corporate income tax every time the tax on transfer of real estate incurs is only required if the taxpayer pays tax directly on revenue under corporate income tax laws (point e clause 4 Article 8).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 2: Amend the regulation on provisional quarterly corporate income tax; in particular, the total amount of provisional corporate income tax paid in the first 03 quarters of the year shall be at least 75% of the terminal tax from the tax period 2021. Otherwise, late payment interest shall be charged on the arrears over the period from the deadline for paying corporate income tax of the third quarter to the date of payment of the arrears (point b clause 6 Article 8).

Before:  Clause 6 Article 4 of Decree No. 91/2014/ND-CP and Article 17 of Circular No. 151/2014/TT-BTC stipulate that if the total of four provisional tax payments is smaller than the amount payable according to the financial statement by 20% or more, the taxpayer shall incur an interest on the amount that exceeds the 20% difference from the next day of deadline for paying taxes in the 4th quarter of the company to the day on which the actual outstanding tax is paid.

New point 3: Amend the regulation that in case the taxpayer executes a project of investment in infrastructure or housing for transfer or lease purchase and collect progress payments from customers, provisional corporate income tax shall be paid quarterly at the rate of 1% of the amount collect (point b clause 6 Article 8).

Before: Article 16 of Circular No. 151/2014/TT-BTC stipulates: If the company is able to determine the expenses in proportion to recorded revenues, it shall pay CIT according to the difference between revenues and expenses; if not, it shall provisionally pay CIT at 1% of the revenue.

New point 4: Supplement the regulation that corporate income tax shall be declared where the dependent unit or business location generates income eligible for corporate income tax incentives at the tax authority of the province other than the province in which the taxpayer is headquartered (point h clause 1 Article 11).

Before: r The taxpayer must include the tax incurred by the affiliate in the CIT declaration at its headquarter.

New point 5: Amend the regulation on how the national defense and security company declares corporate income tax in accordance with the Law on Tax Administration No. 38/2019/QH14, in particular:

- The taxpayer shall calculate the provisional corporate income tax every quarter, submit the annual and terminal tax finalization when the national defense or security company is dissolved, shuts down, terminate a contract or undergoes rearrangement to the tax authority that supervises that company and pay the tax to the state budget  in accordance with Decree No. 126/2020/ND-CP.

- Tax finalization dossier: shall be made in accordance with point 7 Appendix I issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- Security companies affiliated to the Ministry of Public Security, national defense companies affiliated to the Ministry of National Defense (security and national defense companies for short) that earn revenues from manufacture and supply of public products and services and other products and services shall calculate the corporate income tax amount payable and pay the equivalent amount to the account of the Department of Finance affiliated to the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense.

- Every quarter, the Department of Finance affiliated to the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense shall furnish a statement of provisional corporate income tax paid by security and national defense companies to General Department of Taxation and remit the corporate income tax amount of these companies to the State Treasury at the same administrative level with the supervisory tax authorities of these companies.

- Every year, the Department of Finance affiliated to the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense shall send a final statement of corporate income tax to General Department of Taxation, and remit the remaining corporate income tax amount payable after finalization of the security and national defense companies to the State Treasury at the same administrative level with the supervisory tax authorities of these companies. The deadline for paying corporate income tax that remains after finalization is June 30 of the following year.

New point 6: Supplement Appendices 03-3D/TNDN; 03-8A/TNDN; 03- 8B/TNDN; 03-8C/TNDN; 03-9/TNDN enclosed with the final statement No. 03/TNDN (List of tax declaration in Appendix 1 issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

5.5. Declaration of resource royalty (except for resource royalty on petroleum exploration and extraction):

New point: Supplement the regulation that resource royalty on irregular resource extraction licensed by competent authorities or exempt from licensing as prescribed by law shall be declared separately (point d clause 4 Article 8).

Before: There was no such regulation.

5.6. Declaration of taxes and other amounts payable to state budget on petroleum exploration and extraction (declared monthly as prescribed in point e clause 1 Article 8; declared quarterly as prescribed in point dd clause 1 Article 8; declared separately as prescribed in points p, q, r, s clause 4 Article 8; declared every time a sale is made as prescribed in clause 5 Article 8; finalized as prescribed in clause 6 Article 8):

New point 1: Amend the time limit for declaring and paying taxes in the following cases:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- For taxes and other amounts on exploration, development and extraction of petroleum and natural gas declared monthly: the deadline for submission of the tax declaration dossier is the 20th of the month following the month in which the tax incurs as prescribed in point a clause 1 Article 44 of the Law on Tax Administration No. 38/2019/QH14 (point e clause 4 Article 8).

Before:

- Point b clause 2 Article 25 of Circular No. 176/2014/TT-BTC of the Ministry of Finance guides that the surcharges and preliminary corporate income tax from the surplus value oil under petroleum operation of Vietsovpetro JV in block 09.1 must be declared and paid within 20 days from the date on which the JV decides the surplus value under its Resolution but no later than December 31.

- Point b clause 1 Article 12, point b clause 1 Article 20 of Circular No. 36/2016/TT-BTC and point a clause 2 Article 25 of Circular No. 176/2014/TT-BTC guides that the deadline for declaring and paying provisional taxes and other amounts on exploration, development and extraction of petroleum and natural gas is the 20th of the month following the month in which the sale invoice was issued.

New point 2: Supplement the regulation on tax declaration dossier submission location of taxes and amounts payable to state budget on petroleum exploration, development and extraction: Executives, joint ventures, joint operating companies shall declarations of tax and other amounts on petroleum exploration, development and extraction to their supervisory tax authorities; Vietnam National Oil and Gas Group shall submit declarations of amount payables to state budget on petroleum operations to its supervisory tax authority in accordance with regulations of the Government and its financial management regulations (clause 5 Article 11).

Before:

- Article 4 of Circular No. 36/2016/TT-BTC dated February 26, 2016 guides the locations for registration, declaration and payment of corporate income tax and resource royalty on exploration, development and extraction of petroleum and natural gas (except for block 09.1) and corporate income tax on income from participating interest in petroleum contract;

- Article 4 of Circular No. 22/2010/TT-BTC dated February 12, 2010 guides the locations for registration, declaration and payment of surcharges.

- There was no such regulation on location for registration, declaration and payment of taxes on petroleum exploration and sale of Vietsovpetro JV in block 09.1 and petroleum profit split to the host country, signature bonus, and charges for reading and using petroleum documents.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point: Amend the regulation that dividends, profits on state investments in joint stock companies and multiple-member limited liability companies that are represented by ministerial agencies, governmental agencies, and local governments must be declared upon payment in accordance with the Law on Tax Administration (10 days from the day on which the liability is incurred).

Before: Clause 1 Article 9 of Circular No. 61/2016/TT-BTC dated April 11, 2016 of the Ministry of Finance stipulates that dividends, profits on state investments in joint stock companies and multiple-member limited liability companies that are represented by ministerial agencies, governmental agencies, local governments must be declared within 45 days from the date on which a notice of distribution of dividends, profits of the joint stock companies and multiple-member limited liability companies.

5.8. Declaration of post-tax profit that remains after making contributions to funds (point c clause 6 Article 8)

New point: Amend the regulation that the total post-tax profit that remains after making fund contributions in the first 03 quarters of the tax year must be at least 75% of that under the annual tax finalization dossier, starting tax period 2021.

Before: Clause 3 Article 7 of Circular No. 61/2016/TT-BTC stipulate that the total post-tax profit that remains after making fund contributions in the tax year must be at least 80% of that under the annual tax finalization dossier.

5.9. Declaration of taxes on use of collateral (point b clause 5 Article 7, point b clause 2 Article 8)

New point: Supplement the regulation that if a credit institution or a third party authorized by the credit institution uses the collateral pending settlement and the collateral is still under ownership of the borrower (corporate or enterprise), the credit institution or a third party authorized by the credit institution shall declare VAT, corporate income tax and personal income tax quarterly. In specific:

- Submit the tax declaration of VAT, corporate income tax, personal income tax on the use of collateral pending settlement using form No. 01/TSBD (in the list of tax declaration dossiers in Appendix 1 issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

- A schedule of VAT, corporate income tax, personal income tax on the use of collateral pending settlement using form No. 01/TSBD (in the list of tax declaration dossiers in Appendix 1 issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5.10. Declaration of taxes on lottery business

New point 1: Supplement the regulation that if the taxpayer has multiple business operations including traditional or computerized lottery business, then VAT, excise tax and post-tax profit from lottery business shall be separately declared (point a clause 2 Article 7).

Before: There was no such a separate tax declaration dossier for traditional or computerized lottery business.

New point 2: Supplement the regulation that in case a taxpayer that has computerized lottery business, the taxpayer shall also submit a document specifying taxes paid (if any) in each province to the tax authority that supervises the headquarters related to VAT, excise tax, corporate income tax, and post-tax profit that remains after making contributions to funds of the computerized lottery business (clause 2 Article 11).

Before: Regulation on apportionment of VAT, excise tax, corporate income tax, and post-tax profit that remains after making contributions to funds of the computerized lottery business is specified in Decree No. 122/2017/ND-CP dated November 13, 2017 on particulars about financial management and performance assessment of lottery enterprises, stock exchanges and Vietnam Securities Depository; Circular No. 01/2014/TT-BTC dated January 2, 2014 of the Ministry of Finance on guidelines for financial management of lottery enterprises.

New point 3: Supplement the Appendix on apportionment of VAT payable to the local governments eligible for revenues from computerized lottery business form 01-3/GTGT; the Appendix on apportionment of excise tax payable to the local governments eligible for revenues from computerized lottery business form 01-3/TTDB; the Appendix on apportionment of corporate income tax payable to the local governments eligible for revenues from computerized lottery business form 03-8C/TNDN; the Appendix on apportionment of remaining profit payable to the local governments eligible for revenues from computerized lottery business form 01-1/QT-LNCL (in the list of tax declaration dossiers in Appendix 1 issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: Apportionment forms were specified in Official Dispatch No. 4311/TCT-DNL dated October 4, 2014 of General Department of Taxation.

5.11. Declaration of taxes on power generation

New point: Amend the regulation that if the taxpayer has a power plant (applied to power generation) in a province other than the province in which the taxpayer is headquartered, the taxpayer shall submit a VAT declaration dossier at the tax authority where the power plant is located (point c clause 1 Article 11).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- For hydropower generation: Pursuant to Article 23 of Circular No. 156/2013/TT-BTC, the hydropower producer shall declare VAT in the place where the headquarter is located and pay VAT to the treasury where the hydropower plant is located.

- For other power generation, except hydropower: Pursuant to point d Article 11 of Circular No. 156/2013/TT-BTC, the taxpayer shall declare VAT at the headquarter and pay VAT at the place where power plant is located with the rate of 2% on revenue with VAT-exclusive price.

5.12. Declaration of environment protection tax on petroleum

New point 1: Amend the regulation that taxpayers of environment protection tax on petroleum are wholesalers, dependent units of the wholesalers, subsidiary companies of the wholesalers and dependent units of subsidiary companies, in which subsidiary companies of the wholesalers are determined as prescribed in the Law on Enterprises (including subsidiary companies that the wholesaler holds more than 50% of controlling shares or has the right to directly or indirectly designate most or all of the members of the Board of Directors and Director/General Director of the subsidiary company or to decide revisions to the subsidiary company’s charter but the capital contribution rate of the wholesaler is less than 50%) (clause 4 Article 11).

Before: Point b clause 2 Article 16 of Decree No. 83/2013/ND-CP dated July 22, 2013 of the Government; Article 15 of Circular No. 156/2013/TT-BTC dated November 6, 2013 of the Ministry of Finance stipulate that taxpayers of environment protection tax on petroleum are petroleum wholesalers, branches of wholesalers, subsidiaries that keep independent records from the wholesalers; joint-stock companies that the wholesaler holds controlling shares (more than 50%) or branches of the subsidiaries, and branches of joint-stock companies.

Pursuant to this regulation, only subsidiary companies that the wholesaler holds controlling shares more than 50% are required to declare and pay environment protection tax. If a company is subsidiary company of the wholesaler in accordance with the Law on Enterprises (like having the right to directly or indirectly designate most or all of the members of the Board of Directors and Director/General Director of the subsidiary company or to decide revisions to the subsidiary company’s charter) but the capital contribution rate of the wholesaler is less than 50%, then that company is not required to declare and pay environment protection tax.

New point 2: Supplement the regulation that the wholesalers or their subsidiary companies that have dependent units in provinces other than the provinces where they are located and these dependent units do not declare environment protection tax themselves, the wholesalers or the subsidiary companies shall apportion environment protection tax payable in the provinces where the dependent units are located in accordance with regulations (clause 4 Article 11).

Before: There was no such regulation.

New point 3: Supplement the Appendix on apportionment of VAT payable to the local governments eligible for revenues from petroleum (in Appendix 1 issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5.13. Declaration of fees, charges and other amounts collected by diplomatic missions of Vietnam specified in Article 12

New point: Supplement the regulation that the Ministry of Foreign Affairs or its authorized agencies and units by the Ministry of Foreign Affairs shall submit quarterly and annual declarations of fees, charges and other amounts collected by diplomatic missions of Vietnam to the tax authority where they are headquartered.

- Tax declaration dossier and tax finalization dossier are specified in Appendix 1 issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP.

- Quarterly and annual tax declaration shall be submitted as specified in Article 44 of the Law on Tax administration.

Before: There was no such regulation that the Ministry of Foreign Affairs shall submit the quarterly and annual declarations of fees, charges and other amounts collected by diplomatic missions of Vietnam.

5.14. Declaration of personal income tax, other taxes and amounts payable of household businesses and property lessors

a) Tax declaration dossier:

New point 1: Amend the regulation that though no personal income tax is withheld in a month or quarter, the salary payer is still required to declare it (point b clause 3 Article 7).

Before: Point a .1 clause 1 Article 16 of Circular No. 156/2013/TT-BTC dated November 6, 2013 stipulates that if no personal income tax is withheld in a month or quarter, the salary payer is not required to declare it.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: Pursuant to Circular No. 92/2015/TT-BTC dated June 15, 2015, Circular No. 39/2014/TT-BTC, General Department of Taxation provides Grab Taxi Co., Ltd (Grab Taxi operates under business cooperation in transport field) with guidelines as follows:  The company will, upon the business cooperation contract with a partner (corporate or individual), receive the distributed amount of revenue earned from transport and calculate VAT 10% on the distributed amount, and then declare and pay VAT and corporate income tax on the said amount. For the revenue of an individual partner: The company will withhold VAT 3% and personal income tax 1.5% and then declare and pay taxes on behalf of that individual; for the revenue of an corporate partner: Depending on the VAT declaration method of the partner (direct or credit invoice), the company will make corresponding invoices; and then the company will, based on the business cooperation contract, distribute the revenue to the partner for the further tax declaration as prescribed.

New point 3: Amend the regulation that the organization shall declare and pay tax on behalf of individuals who receive dividends in the form of securities; individuals that are existing shareholders that receive bonus in the form of securities; individuals whose stakes are increased due to reinvested profits; individuals contributing real estate, stakes, and securities.  Tax shall be declared and paid when the individual transfers the same type of securities, transfers or withdraws capital (point d clause 5 Article 7).

Before: Clauses 9 and 10 Article 26 of Circular No. 111/2013/TT-BTC dated August 15, 2013 of the Ministry of Finance stipulate: The individuals who receive dividends in the form of securities; individuals that are existing shareholders that receive bonus in the form of securities; individuals whose stakes are increased due to reinvested profits; individuals contributing real estate, stakes, securities shall declare and pay their personal income tax themselves. Tax shall be declared and paid personally when the individual transfers the same type of securities, transfers or withdraws capital.

New point 4: Supplement the regulation that the organization that pays bonuses, discounts, subsidies in cash or not in cash to household businesses and individual businesses paying fixed tax shall declare and pay tax on their behalf as per regulations (point dd clause 5 Article 7).

Before: There was no such regulation. To deal with this difficulty, according to Circular No. 219/2013/TT-BTC dated December 31, 2013, Circular No. 92/2015/TT-BTC dated June 15, 2015, General Department of Taxation promulgated certain Official Dispatches to guide that the organization is not required to withhold tax or declare and pay tax on behalf of individuals in case of discounts.

New point 5: Amend the regulation that if the real estate buyer must pay tax on behalf of the seller as prescribed by the real estate transfer contract (unless tax is exempt, cancelled or deferred), the buyer shall declare and pay tax on behalf of the seller (point g clause 5 Article 7).

Before: Clause 11 Article 2 of Decree No. 12/2015/ND-CP dated February 12, 2015 of the Government stipulates if the real estate buyer must pay tax on behalf of the seller as prescribed by the real estate transfer contract, the buyer shall declare and pay tax on behalf of the seller, without eliminating the cases that the tax is exempt, cancelled or deferred.

b) Taxes declared monthly, quarterly, annually, separately; tax finalization specified in Article 8

New point 1:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: Point a.2 Clause 1 Article 16 of Circular No. 156/2013/TT-BTC dated August 15, 2013 of the Ministry of Finance stipulates: The salary payer has at least a type of personal income tax of VND 50 million or more to withhold in a month, it shall declare personal income monthly, unless it declares VAT quarterly.

New point 2:

Amend the regulation that if a salary earner is required to declare tax with tax authorities, he/she may choose to declare personal income tax monthly or quarterly at his/her own discretion (points, a, c clause 1 Article 8).

Before:  Clause 3 Article 21 of Circular No. 92/2015/TT-BTC stipulates: A resident that earns salaries or remunerations shall declare tax with tax authorities quarterly.

New point 3:

Amend the regulation that in case an employee is re-assigned to a new organization after the old organization is acquired, consolidated, divided or converted, or to a new organization that is in the same system as the old organization, the new organization shall finalize tax as authorized by such employee, including the income paid by the old organization, and collect documents about withholding of personal income tax issued by the old organization to the employee (if any) (point d.1 clause 6 Article 8).

Before: Circular No. 92/2015/TT-BTC only stipulates that in case an employee is re-assigned to a new organization after the old organization is acquired, consolidated, divided or converted, or to a new organization, the new organization shall finalize tax as authorized by such employee, including the income paid by the old organization. An then General Department of Taxation guides that in case an employee is re-assigned to a new organization that is in the same system as the old organization, the new organization shall finalize tax as authorized by such employee, including the income paid by the old organization.

c) Tax declaration dossier submission location specified in Article 11

New point 1: Supplement the regulation that individuals leasing out overseas real estate shall submit tax declaration dossiers to the supervisory tax authorities of the areas where they reside (point g clause 6 Article 11).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 2: Supplement the concepts housing, commercial housing including construction works, housing that has been transferred and put into use before issuance of the certificate of land use right and ownership of property on land (point dd.2 clause 6 Article 11).

Before: The concepts housing and commercial housing are prescribed in legislative documents on housing (Decree No. 71/2010/ND-CP dated June 23, 2010 elaborating the Law on Housing).

New point 3: Supplement the regulation that in case an individual earns salary in more than one location, including salary on which tax is declared directly and salary on which tax has been withheld by the income payer, the tax finalization dossier shall be submitted to the tax authority of the area where the biggest source of income is located (point b.1 clause 7 Article 11).

Before: Point Clause 3 Article 21 of Circular No. 92/2015/TT-BTC stipulates: In case an individual earns salary in more than one location (whether personal income tax is declared by the individual or withheld by the salary payer), the tax finalization dossier shall be submitted to the supervisory tax authority of the salary payer where personal exemption is claimed; if the personal exemption is not claimed, the tax finalization dossier shall be submitted to the sub-department of taxation of the area where the individual resides.

d) Taxes to be calculated and informed by tax authorities specified in Article 13

New point 1: Cancel the procedure related to notice of personal income tax payable to individuals earning income from capital assignment, receipt of dividends in form of shares, reinvested profits upon transfer (clauses 1, 2 Article 13).

Before: Appendix 02 on the list of forms for self-employed individuals and for personal income tax issued together with Circular No. 92/2015/TT-BTC dated June 15, 2015 of the Ministry of Finance stipulates: The tax authority must give a notice of the personal income payable to individuals earning income from capital assignment, receipt of dividends in form of shares, reinvested profits upon transfer.

New point 2: Supplement the regulation that within 03 working days from the receipt of the taxpayer’s tax declaration dossier, the tax authority shall complete and send Form No. 01/CCTT-TĐMN in Appendix II of Decree No. 126/2020/ND-CP to the competent authority, requesting the competent authority to provide cadastral information. This document is the basis for issuance of the tax notice (point c clause 6 Article 13).

Before: There was no such regulation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: There was no such regulation.

5.15. Declaration, calculation and issue of notice of payment of land levies

New point 1: Supplement the regulation on responsibilities of tax authorities in management of land levies incurred within economic zones or hi-tech zones after receiving a notice of payment of land levies from the competent authority, including urging the taxpayer to pay accordingly; calculating late payment interest and enforcing payment of tax debt (if any) in accordance with the Law on Tax administration; prepare a report on collected amounts (point b clause 12 Article 13).

Before: There was no such regulation.

New point 2: Amend the forms of notices of payment of land levies applied to cases of authorized extension, unauthorized extension or initial and modified/supplementary notice (clause 13 Article and Appendix issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: Circular No. 76/2014/TT-BTC dated June 16,2 014 of the Ministry of Finance on guidelines for Decree No. 45/2014/ND-CP dated May 15, 2014 of the Government stipulates form No. 01 of notice of payment of land levies without regard to cases of authorized extension, unauthorized extension or initial and modified/supplementary notice.

New point 3: Amend the regulation on the day on which the land levy is incurred (point b clause 6 Article 10).

- In case of land allocation by the State or land repurposing, the land allocation date or repurposing date;

- In case of LUR certification, the day on which the land registration office sends information to the tax authority.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- Clause 4a Article 24 of Circular No. 83/2013/ND-CP stipulates: “The day on which the land levy is incurred is prescribed by law”.

- Clause 4a Article 18 of Circular No. 156/2013/TT-BTC stipulates: “If a business organization is allocated levied land, which can be repurposed, by the Government via an auction, the day on which financial liability is incurred is the effective date of the decision on land allocation made by a competent authority.  The day on which land is handed over shall be considered the day on which financial liability is incurred if it is not consistent with that in the decision on land allocation”.

New point 4: Supplement the regulation that the finance authority shall determine these deductible amounts and send these documents to the tax authority within 05 working days from the receipt of documents sent by the land registry office (point b clause 6 Article 13).

Before: There was no such regulation.

New point 5: Supplement the regulation on time limit for the tax authority to send a request for supplementation to the sending authority in case the document determining land-related liabilities, decision, notice or document sent by the other competent authority is invalid (clause 8 Article 13).

Before: There was no such regulation.

5.16. Declaration, calculation and issue of notice of payment of land rents and water surface rents

New point 1: Supplement the regulation on time limit for submission of declaration dossier of land rents and water surface rents without a contract or decision on land lease or water surface lease: the dossier shall be submitted within 30 days from the day on which the land is used for the purpose that requires lease of land or water surface (point b clause 5 Article 10).

Before: There was no such regulation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: There was no such regulation.

New point 3: Supplement the regulation that the finance authority shall determine the amounts that can be deducted from the land rents, water surface rents and land levy and send these documents to the tax authority within 05 working days from the receipt of documents sent by the land registry office (point b clause 6 Article 13).

Before: There was no such regulation.

New point 4: Supplement the regulation that within 03 working days from the receipt of the taxpayer’s tax declaration dossier, the tax authority shall complete and send Form No. 01/CCTT-TĐMN in Appendix II of Decree No. 126/2020/ND-CP to the competent authority, requesting the competent authority to provide cadastral information. This document is the basis for issuance of the notice of payment of rents, water surface rents (point c clause 6 Article 13).

Before: There was no such regulation.

New point 5: Supplement the regulation on time limit for the tax authority to send a request for supplementation to the sending authority in case the document determining land-related liabilities, decision, notice or document sent by the other competent authority is invalid (clause 8 Article 13).

Before: There was no such regulation.

New point 6: Supplement the regulation on responsibilities of tax authorities in management of land levies incurred within economic zones or hi-tech zones after receiving a notice of payment of land levies from the competent authority, including urging the taxpayer to pay accordingly; calculating late payment interest and enforcing payment of tax debt (if any) in accordance with the Law on Tax administration; prepare a report on collected amounts (point b clause 12 Article 13).

Before: There was no such regulation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 1: Amend the regulation that on location for submission of declaration dossiers of non-agricultural land use tax: “Organizations, households and individuals shall submit tax declaration dossiers to the single-window authorities or tax authorities (in case single-window authorities are not available) responsible for the area where the levied land is located” (point a1 clause 7 Article 11).

Before:

- Article 18 of Circular No. 156/2013/TT-BTC:

+ Point c.1 clause 1 stipulates: The taxpayer which is a corporate shall declare and submit the tax declaration dossier to the sub-department of taxation of the area where the land is located.

+ Point c.2 clause 1 stipulates: The taxpayer that is a household or individual shall declare and submit the tax declaration dossier to the People’s Committee of commune, or the sub-department of taxation of the area where the land is located, or a corporate or individual authorized by the tax authority as per the law on a case-by-case basis.

+ Point b.3 clause 1 stipulates: The taxpayer that is required to submit a consolidated tax declaration dossier shall do so to the chosen and registered sub-department of taxation.

- Joint Circular No. 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT stipulates the liability declaration dossier includes “tax declaration form of non-agricultural land use tax equivalent to each case prescribed by law on tax administration (original)”.

New point 2: Amend the regulation that the People’s Committees of communes or LUR registry offices shall verify declarations of tax on non-agricultural land from the receipt of documents from the taxpayer or tax authority (point c7 clause 11 Article 13).

Before: Point b.1 Clause 1 Article 18 of Circular No. 156/2013/TT-BTC stipulates:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- If information in the declaration submitted by a corporate must be verified at the request of the tax authority, the local Land and Resources Authority shall verify it and notify the tax authority.

New point 3: Supplement the regulation that the People’s Committees of communes or LUR registry offices shall verify declarations of tax on non-agricultural land from within 03 working days from the receipt of documents from the taxpayer or tax authority (point c7 clause 11 Article 13).

Before: There was no such regulation.

New point 4: Supplement the declaration form of non-agricultural land use tax applicable to households and individuals in transfer, inheritance and gift of land use right No. 04/TK-SDDPNN in the Appendix I issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP.

Before: There was no such regulation.

5.18. Receipt and issuance of notice of fees for grant of right to mineral extraction, water resource extraction, sea area usage

New point 1: Supplement the regulation that time limit for sending decisions, notices and documents about the fees for grant of right to mineral extraction, water resource extraction, and sea area usage to the Department of Taxation of the province where these activities take place within 05 working days from their issuance dates (clause 7 Article 10).

Before: Decree No. 82/2017/ND-CP dated July 17, 2017 of the Government on calculation method and charge for granting water right, Decree No. 67/2019/ND-CP dated July 31, 2019 of the Government on charges for granting mining right and calculation methods thereof, Joint Circular No. 198/2015/TTL-BTNMT dated December 7, 2015 of the Ministry of Finance and the Ministry of Natural Resources and Environment on method of calculation, collection, management and use of sea area usage stipulate different time limits for sending decisions, notices and documents about the fees for grant of right to mineral extraction.

New point 2: Supplement the regulation that by the 30th of April, the tax authority shall issue the notice of the next years’ fees for extraction of minerals, water resources, and sea area usage if the fees are paid annually (point b clause 7 Article 13).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 3: Amend the regulation that time limit for tax authorities to issue and send tax notices to taxpayers in case of fees for sea area usage is 10 working days from the receipt of the valid decision, notice or document (point a clause 7 Article 13).

Before: Clause 1 Article 7 of Joint Circular No. 198/2015/TTL-BTNMT dated December 7, 2015 of the Ministry of Finance and the Ministry of Natural Resources and Environment on method of calculation, collection, management and use of sea area usage stipulates a 3-day time limit.

5.19. Declaration, calculation, notice of registration fee

New point 1: Supplement notice of payment of registration fees for other property except housing and land form No. 02/TB-LPTB in Appendix II issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP (split from the declaration form of registration fee for other property (except housing and land).

Before: There was no such regulation.

New point 2: Amend the required documents in the registration fee declaration dossier which include a copy of the former owner’s certificate of ownership and right to use registration or copy of certificate of revocation of vehicle registration and license plate certified by the police authority (for property the right to own or use in Vietnam of which is registered for the second time onwards) (in point 12 Appendix I issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: Point b clause 4 Article 1 of Decree No. 20/2019/ND-CP stipulates a legitimate copy of the former owner’s certificate of registration of ownership or right to use (related to the property the ownership or right to use of which is registered for the 2nd time onwards in Vietnam).

New point 3: Amend the regulation that the tax authority shall issue a notice of registration fee for housing and land to the taxpayer within 5 working days from the receipt of the document determining land-related liabilities sent by the competent authority (point a clause 6 Article 13).

Before: Clause 4 Article 10 of Circular No. 140/2016/ND-CP stipulates: Sub-department of taxation shall issue a notice of registration fee within 3 working days after receiving a duly complete dossier.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point: Supplement the regulation that the mining entity or buyer of minerals will register to pay environmental protection fee on behalf of the miner every time the fee is incurred associated with irregular extraction of resources licensed by competent authorities or exempted from licensing as prescribed by law (point k clause 4 Article 8).

Before: Clause 2 Article 6 of Decree No. 164/2016/ND-CP on environmental protection fee for mineral extraction has not stipulated the declaration of environmental protection fee for mineral extraction every time the fee is incurred.

5.21. Declaration, calculation, issuance of notice of licensing fee

New point 1: Amend the regulation that new businesses (except household businesses and individual businesses), including medium and small enterprises converted from household businesses) and existing businesses that establish new dependent units or business location shall submit the licensing fee declaration by January 30 of the year preceding the establishment or inauguration year (point a clause 1 Article 10).

Before: Clause 3 Article 1 of Decree No. 22/2020/ND-CP dated February 24, 2020 stipulates: For corporates, deadline for submission of licensing fee declaration is January 30 of the year preceding the establishment or inauguration year.

New point 2: Supplement the regulation that in case capital in changed during the year, the licensing fee payer shall submit the declaration by January 30 of the year succeeding the year in which the change occurs (point a clause 1 Article 10).

Before: There was no such a regulation on declaration of licensing fee in case capital is changed during the year.

New point 3: Amend the regulation that household businesses and individual businesses are not required to submit licensing fee declarations (point b clause 1 Article 10).

Before: Clause 3 Article 1 of Circular No. 22/2020/ND-CP stipulates: Household businesses, individuals and groups of individuals paying fixed tax must not submit declarations of license fee.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 1: Annul regulation on finalization of charges.

New point 2: Regulation on declaration of customs fees; fees on goods, luggage, transiting vehicles: Annul regulation that requires the taxpayers to submit the declaration dossiers of customs fees; fees on goods, luggage, transiting vehicles to tax authorities (point i clause 5 Article 7; point d clause 1, point dd clause 6 Article 8).

Before: Article 20 and Article 25 of Decree No. 83/2013/ND-CP stipulate: Entities that are authorized to collect customs fees; fees on goods, luggage, transiting vehicles shall submit the declaration dossiers to the supervisory tax authorities.

5.23. Foreign contractor withholding tax

New point 1: Supplement the regulation on Corporate income tax of foreign transport companies shall be provisionally paid quarterly and finalized annually. The total corporate income tax provisionally paid in the first 03 quarters of the year shall be at least 75% of the terminal tax starting the tax year 2021. Otherwise late payment interest shall be charged on the arrears over the period from the deadline for paying corporate income tax of the third quarter to the date of payment of the arrears (point g clause 6 Article 8).

Before: There was no such regulation.

New point 2: Supplement the table of apportionment of VAT payable of foreign contractor to local governments eligible for revenues in the declaration of foreign contractor withholding tax with respect to direct method (in Appendix I issued together with Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: There was no such regulation.

5.24. Other regulations on tax declaration and calculation

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: There was no such regulation.

New point 2: Supplement the regulation that the organization or individual that declares or pays tax on behalf of another taxpayer shall comply with the same regulations on tax declaration and payment in this Decree (clause 5 Article 7).

Before: There was no such regulation.

New point 3: Supplement the regulation that in case of relocation, the taxpayer shall submit the tax declaration dossier to the tax authority in charge of the old location if the taxpayer has not completed the procedures for relocation with the business registration authority or tax authority in charge of the new location (clause 6 Article 7).

Before: There was no such regulation.

New point 4: Do not specify that the tax authority which receives and processes tax declaration dossiers is Department of Taxation or Sub-Department of Taxation or Director of Department of Taxation, but only stipulate the tax authority of the area where tax declaration dossier is submitted.

Before: Circular No. 156/2013/TT-BTC and amending Circulars specify that the tax authority which receives and processes tax declaration dossiers is Department of Taxation or Sub-Department of Taxation or Director of Department of Taxation.

New point 5: Supplement the regulation that certain taxpayers, although doing accounting in the province where the taxpayer is headquartered and has business operation in a province other than the province where the taxpayer is headquartered, is not required to submit a table of apportionment of the tax payable (if any) in each province eligible for revenue of state budget (point a, b, d, dd, e clause 2 Article 11).

Before: There was no such regulation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: There was no such regulation.

New point 7: Amend the regulation that in case of conversion (except equitized state-owned enterprises) where the enterprise after conversion inherits all tax obligations of the enterprise before conversion, tax shall be finalized at the end of the year instead of the issuance date of the decision on conversion (clause 6 Article 8).

Before:

- Article 16 of Circular No. 151/2014/TT-BTC dated October 10, 2014 of the Ministry of Finance stipulates: With regard to the conversion of company, if the transferee receives whole tax liabilities of the transferor before conversion (such as conversion from limited liability company into joint-stock company or conversely; conversion from state-owned company into joint-stock company and other cases prescribed in regulations of law), it shall not declare taxes until a decision on conversion of company is made, and it shall only declare taxes annually as prescribed.

- Clause 1 Article 21 of Circular No. 92/2015/TT-BTC dated June 15, 2015 of the Ministry of Finance stipulates: In case of enterprise conversion, if the transferee inherits every tax liability of the old enterprise (such as conversion from a limited liability company to a joint-stock company or vice versa, conversion of wholly-state-owned enterprise into a joint-stock company, and other cases prescribed by law), the old enterprise is not required to make a tax statement up to the time of issuance of the decision on enterprise conversion. The transferee shall make annual statements as prescribed.”

6. Tax liability imposition

New point 1: Supplement certain cases of tax liability imposition in Article 14 of Decree, including: Fails to implement the decision on tax audit, tax inspection; Sells, buys, exchanges goods with unusual values; records unusual value of goods; Buys, exchanges goods, services using illegal invoices; illegally uses invoices for actual goods and services as discovered by an investigating or inspecting authority while revenues and expenses as the basis for tax calculation have been declared (Article 14)

New point 2: Specify basis for tax liability imposition for corporate taxpayers: The tax authority’s database and trade database; documents and effective inspection verdicts; verification results; minimum revenue of 03 local business establishments selling the same commodities or having the same business lines and scale. In case such business establishments are not available or are available but information about their commodities, business lines or scale is inadequate, information about business establishments in other areas with the same natural and economic conditions may be used (clause 1 Article 15).

Before: There was no regulation on number of enterprises information of which is required and order of priority thereof.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: There was no such regulation.

New point 4: Supplement the regulation that organizations paying VAT using the subtraction method; individual businesses paying taxes using the declaration method shall have proportional tax on revenue imposed as prescribed (clause 2 Article 15)

Before: There was no such regulation.

New point 5: Specify tax liability imposition authority, procedures and decision (Article 16).

Before: There was no such regulation.

7. Deadlines for payment of land-related amounts, fees for grant of right to extraction of water resources and minerals, fees for grant of sea area usage

7.1. Land rents and water surface rents

New point 1: Supplement the regulation that in case the declaration is revised, the rent shall be paid within 30 days from the day on which the rent notice is issued (point a3, clause 3 Article 18).

Before: There was no such regulation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: There was no such regulation.

New point 3: Amend the regulation on deadline for payment due to delay in land use time of the project and competent authority granting extension of land use: Within 30 days from the issuance date of the rent notice, the tenant shall pay 50% of the rent specified in the notice; Within 90 days from the issuance date of the rent notice, the tenant shall pay the remaining 50% (point a.4 clause 3 Article 18).

Before: Point c clause 3 Article 2 of Circular No. 333/2016/TT-BTC of the Ministry of Finance only stipulates entities eligible for extension of land use period for a lump-sum payment within 30 days from the grant of extension by the competent authority.

7.2 Non-agricultural land use tax

New point 1: Supplement regulation on deadline for making first non-agricultural land use tax payment: Within 30 days from the day on which the tax notice is issued by the tax authority (point a, clause 1 Article 18).

Before: There was no such regulation.

New point 2: Amend the regulation that from the second year, non-agricultural land use tax shall be paid annually by October 31 (point a, clause 1 Article 18).

Before: the tax shall be paid biannually.

New point 3: Supplement the regulation that in case the declaration is revised, tax shall be paid within 30 days from the day on which the tax notices is issued (point c, clause 1 Article 18).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

7.3. Fees for grant of right to mineral extraction, water resource extraction, sea area usage

a) Fees for grant of right to water resource extraction

New point: Change the deadline for payment of the fee for grant of right to water resource extraction (clause 5 Article 18 Decree No. 126/2020/ND-CP):

- Within 90 days from the day on which the first notice or adjustment notice is issued by the competent authority;

- From the second year: (i) If the taxpayer chooses paying annually, the fee shall be paid by May 31; (ii) If the taxpayer chooses the latter, the first 50% shall be paid by May 31 and the rest by October 31.

Before: The fee for grant of right to water resource extraction shall be paid annually, the taxpayer may choose between paying monthly, quarterly or annually.

b) Fees for grant of the right to mineral extraction:

New point: Clause 6 Article 18 of Decree No. 126/2020/ND-CP specifies the amount payable in a certain period from the second time onwards if the taxpayer chooses paying biannually: the first 50% shall be paid by May 31 and the rest by October 31.

Before: There was no such regulation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point:

In case fee is paid annually:

Fee shall be paid within 30 days from the day on which the first notice or adjustment notice is issued by the competent authority.

From the second year, the taxpayer may choose between paying annually or biannually.  If the taxpayer chooses the former, fee shall be paid by May 31.

Before: There was no such regulation on deadline for making the first payment of the fee for grant of right to sea area usage; the taxpayer may not choose between paying annually or biannually.

8. Deferral of fee for grant of right to mineral extraction in case of land clearance difficulties

New point: Article 20 of Decree No. 126/2020/ND-CP specifies application for deferral, deferral period, deferred amount, deferral procedures and powers related to fee for grant of right to mineral extraction in case of land clearance difficulties.

Before: There was no such regulation on deferral of fee for grant of right to mineral extraction in case of land clearance difficulties. Clause 1 Article 11 of Decree No. 67/2019/ND-CP dated July 31, 2019 of the Government stipulates that the payment of fee for grant of right to mineral extraction in case of land clearance difficulties shall comply with law on tax administration.

9. Fulfillment of tax obligations upon exit from Vietnam

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Before: Clause 1 Article 40 of Circular No. 156/2013/TT-BTC only stipulates that the Vietnamese people that emigrate to reside overseas, Vietnamese people residing overseas, foreigners must fulfill their tax liability before leaving Vietnam.

10. Debt freezing procedures

New point: Article 23 of Decree No. 126/2020/ND-CP stipulates debt freezing procedures, documentation and time in case the taxpayer is dead or declared dead, missing or incapacitated by the court; the taxpayer dissolves or goes bankrupt; the taxpayer no longer does business at the registered address; or the taxpayer has its business registration certificate revoked.

Before: There was no such regulation.

11. Cooperation between tax authorities, business registration authorities and local governments in cancelling debts, collecting cancelled debts before issuance of the  certificate of business registration

New point: Article 25 of Decree No. 126/2020/ND-CP stipulates cooperation between tax authorities and business registration authorities in controlling taxpayers whose debts have been cancelled, if the said taxpayer wishes to resume the business, the cancelled tax debt must be reimbursed to the state.

Before: There was no such regulation on information exchange between the tax authority and business registration authority with respect to cases of tax debt cancellation.

12. Enforcement of payment of tax debt

New point 1: The tax authority may request the customs authority to suspend customs procedures for exported goods and imported goods (clause 8 Article 33 of Decree No. 126/2020/ND-CP).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 2: If the decision on enforcement by invoice suspension expires before the taxpayer fully pays the tax debt and the next enforcement measures cannot be implemented, or the invoice suspension is effective, the tax authority shall keep implementing the effective enforcement measures.  In case an enforcement measure is found to be more effective or practical while another measure is being implemented, the former may be implemented by the tax authority (point b.2 clause 3 Article 34 of Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: The enforcement by invoice suspension may not apply together with other enforcement actions.

New point 3: The enforcement decision takes effective as of the date of issue (Articles of Chapter VII of Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: The enforcement decision takes effective after 5 days since the date of issue (clause 3 Article 27 of Decree No. 129/2013/ND-CP), enforcement decision takes effective after 3 days since the date of issue (clause 1 Article 36 of Decree No. 129/2013/ND-CP).

13. Publishing of information

New point: Supplement the regulations below: Information about a taxpayer will be published by the tax authority in the following cases: the taxpayer fails to submit the tax declaration dossier, the taxpayer is not operating at the registered address; published information and publishing method; authority to publish information is vested in the head of the supervisory tax authority of the taxpayer (Article 29 of Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: There was no such regulation.

14. Responsibilities of relevant entities to provide information about taxpayers

New point 1: Supplement regulatory authorities responsible for providing information for tax authorities: the Ministry of Construction, the Ministry of Industry and Trade, the Ministry of Information and Communications, the Ministry of Transport, the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, the Ministry of Health, the Ministry of Science and Technology and competent authorities of other Ministries and agencies: Audit authorities; General Statistics Office; Social Security agencies; the courts and arbitral tribunals, etc. (clause 2 Article 26 of Decree No. 126/2020/ND-CP)

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 3: Supplement information provided for tax authorities (clause 2 Article 26 of Decree No. 126/2020/ND-CP) such as:

- Information about e-commerce, franchising, content of e-commerce and franchising licenses.

- Information about land use, revenues from land and property on land, licensing resource extraction, annual production of each license.

- Information about Internet service provision, online information and online video games; information about online advertising; online sale of information technology products, digital trade, etc.

New point 4: Supplement responsibilities of relevant organizations and individuals to provide information (Article 27 of Decree No. 126/2020/ND-CP):

- Income payers shall provide information about paid income and tax withheld when preparing annual tax finalization dossiers or requested by tax authorities.

- Competent authorities shall provide information before auction of imported goods that are exempt from tax or not subject to tax for customs authorities, which will impose tax liability.

- When the tax authority makes a written request for information, the requested party shall provide the information within 10 days from the receipt of such request.

New point 5: Responsibilities of regulatory authorities, organizations and individuals to provide information (Article 28 of Decree No. 126/2020/ND-CP):

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

- Supplement the regulation that if information is not punctually and adequately provided when requested by the tax authority in a manner that affects the determination of tax obligations or timely processing of the taxpayer’s application for tax refund or tax remission, the requested party shall be held responsible for the damage incurred by the taxpayer in accordance with Clause 2 Article 61 and Clause 3 Article 75 of the Law on Tax Administration.

15. Duties and entitlements of commercial banks and payment service providers (PSPs) specified in Article 30

New point 1: Supplement the duties and entitlements of commercial banks collecting and transferring taxes and other amounts to state budget as prescribed in Article 56 of the Law on Tax Administration and the Government’s Decree No. 11/2020/NĐ-CP dated January 20, 2020 on state treasury-related administrative procedures  (point a.1 clause 1 Article 30).

Before: There was no such regulation.

New point 2: Amend the regulation that if the collected amounts are not fully and punctually transferred to state budget through the commercial bank’s fault, the commercial bank shall pay late payment interest in accordance with the Law on Tax Administration (point a.4 clause 1 Article 30).

Before: Point b clause 4 Article 5 of Circular No. 84/2016/TT-BTC stipulates: The bank shall make timely adjustments to deviation and omission in connection with payment orders of users of payment services; cooperate with relevant banks or State Treasury agencies in recovery of mistaken or excess sum of transferred money as prescribed in law and regulations; and compensate for damage caused by itself in accordance with regulations and law.

New point 3: Amend that in case of errors, the commercial bank shall send notices to relevant units and must not return the paid tax to the taxpayer if information has been transmitted to State Treasury. The commercial bank where the State Treasury’s account is opened shall compare payment documents with those of the State Treasury (point a.5 clause 1 Article 30).

Before: Point dd clause 1 Article 17 of Circular No. 84/2016/TT-BTC stipulates: dd) If the taxpayer conducts one e-Tax payment more than 02 (two) times in a day, the taxpayer must request the bank/State Treasury agency to remain one payment.  If the paid tax of the coincident payment has been included in the State budget, the taxpayer may deduct that sum of money from other amounts payable or request for refund as prescribed in law on tax administration.

New point 4: Supplement duties and entitlements of commercial banks that have agreed to connect to the tax authority’s web portal to obtain the corresponding codes of these amounts on the tax authority’s web portal and write them on the payment orders.  Do no cancel a payment order after payment information has been transmitted to the tax authority’s web portal (point b.2 clause 1 Article 30).

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point 5: Amend the regulation that commercial banks have duties to develop an information technology system that is suitable for the information exchange standards and formats established by tax authorities.  Protect the confidentiality of information. Only use information about payments by taxpayers and customs declarants provided by tax authorities on their web portals for collection purposes (point b.3 clause 1 Article 30).

Before: Points a, b clause 3 Article 5 of Circular No. 84/2016/TT-BTC stipulates: The commercial banks shall perform the agreement on cooperation in collection concluded with General Department of Taxation and use and protect confidentiality of information about collection and payment furnished by tax authorities on the web portal of General Department of Taxation.

New point 6: Supplement duties of PSPs in collecting taxes and other amounts payable to state budget (point c clause 1 Article 30).

Before: There was no regulation specifying duties of PSPs in collecting taxes.

New point 7: Supplement that commercial banks shall provide information about taxpayers’ checking accounts opened at the banks for tax authorities (clause 2 Article 30).

Before: There was no such regulation.

16. Purchase of information, documents and data serving tax administration

New point: Supplement the regulation on purchase of information, documents and data serving tax administration. This regulation enables tax authorities and customs authority to use funding of state budget to purchase information, documents and data serving tax administration and actions against violations of tax law and customs law (Article 40 of Decree No. 126/2020/ND-CP).

Before: There was no such regulation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

17.1. Application of advance pricing agreement to enterprises having related-party transactions

New point: Supplement the regulation that the application of APA shall comply with Clause 6 Article 42 of the Law on Tax Administration, in specific:

- On the basis of request of the taxpayers, consensus between the tax authorities and the taxpayer under unilateral, bilateral and multilateral agreements between tax authorities, taxpayers and tax authorities of relevant countries or territories;

- According to information provided by the taxpayers and legally verified commercial database;

- Subject to approval by the Minister of Finance. Regulations of law on international treaties and international agreements shall apply to bilateral and multilateral agreements participated in by foreign tax authorities.

Before: There was no such regulation.

17.2. Steps/procedures for requesting application of APA

New point: Supplement steps/procedures for requesting application of APA, including: Consulting before submitting the official application of APA (if any); Submitting the official application of APA;  submitting the request for initiating mutual agreement procedures (in case of bilateral or multilateral APA); obligations of taxpayers in submitting annual APA reports (and ad-hoc APA reports, if any); application for renewal, modification, revocation and cancellation of APA (if any).

Before: Consultation with General Department of Taxation before submitting the official application of APA: Pursuant to Article 8 of Circular No. 201/2013/TT-BTC, the consultation step before submitting the official application is compulsory. But pursuant to Decree No. 126/2020/ND-CP, this step is optional depending on the need of the taxpayer.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

New point: the basis of the negotiation result with the taxpayer (in case of unilateral APA) or the tax authority of the other party and the taxpayer (in case of bilateral or multilateral APA), General Department of Taxation shall draft the APA and submit it to the Ministry of Finance for approval. For bilateral and multilateral APAs participated in by foreign tax authorities, the Ministry of Finance shall consult with the Ministry of Foreign Affairs, the Ministry of Justice, relevant  authorities, the Government and the Prime Minister about conclusion of the APA in accordance with regulations of law on conclusion of international agreements.

Before: Decree No. 83/2013/ND-CP stipulates that the Ministry of Finance will approve and designate the General Department of Taxation to conclude APA.

17.4. Effectiveness of APA

New point: The effective date of the APA shall comply with Clause 16 Article 3 of the Law on Tax Administration.  The Ministry of Finance shall submit reports on bilateral and multilateral APAs relevant to foreign tax authorities to the Government for consideration and decision.

Before: Decree No. 83/2013/ND-CP stipulates that the signed APA takes effect up to 5 years and may be renewed up to 5 more years; the effective date is after the day on which the taxpayer submits the application of APA./.

You are not logged!


So you only see the Attributes of the document.
You do not see the Full-text content, Effect, Related documents, Documents replacement, Gazette documents, Written in English,...


You can register Member here


You are not logged!


So you only see the Attributes of the document.
You do not see the Full-text content, Effect, Related documents, Documents replacement, Gazette documents, Written in English,...


You can register Member here


You are not logged!


So you only see the Attributes of the document.
You do not see the Full-text content, Effect, Related documents, Documents replacement, Gazette documents, Written in English,...


You can register Member here


Official Dispatch No. 5189/TCT-CS dated December 7, 2020 on introduction of new points of Decree No. 126/2020/ND-CP elaborating the Law on Tax Administration
Official number: 5189/TCT-CS Legislation Type: Official Dispatch
Organization: The General Department of Tax Signer: Dang Ngoc Minh
Issued Date: 07/12/2020 Effective Date: Premium
Effect: Premium

You are not logged!


So you only see the Attributes of the document.
You do not see the Full-text content, Effect, Related documents, Documents replacement, Gazette documents, Written in English,...


You can register Member here


Official Dispatch No. 5189/TCT-CS dated December 7, 2020 on introduction of new points of Decree No. 126/2020/ND-CP elaborating the Law on Tax Administration

Address: 17 Nguyen Gia Thieu street, Ward Vo Thi Sau, District 3, Ho Chi Minh City, Vietnam.
Phone: (+84)28 3930 3279 (06 lines)
Email: info@ThuVienPhapLuat.vn

Copyright© 2019 by THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Editorial Director: Mr. Bui Tuong Vu

DMCA.com Protection Status