01/06/2021 15:50

Tổng hợp 07 bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Tổng hợp 07 bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Hợp đồng đặt cọc là một loại hợp đồng được xác lập nhằm đảm bảo giao kết cho một hợp đồng dân sự khác, hoặc thực hiện một hợp đồng đã giao kết đúng với thỏa thuận. Việc thực hiện loại hợp đồng này có thể phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp phức tạp khó giải quyết bởi đây là hợp đồng phụ, bảo đảm cho việc thực hiện một hợp đồng khác.

Dưới đây là 07 bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc:

1. Bản án 22/2020/DSST ngày 10/06/2020 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

+ Tóm tắt nội dung: Vào ngày 07/9/2018, ông Lê Duy K có đồng ý chuyển nhượng cho bà X 02 thửa đất thuộc cụm dân cư phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang với giá là 450.000.000 đồng. Bà X đặt cọc trước cho ông K 100.000.000 đồng, khi giao tiền giữa hai bên có lập Hợp đồng đặt cọc viết tay đề ngày 07/9/2018. Trong hợp đồng đặt cọc viết tay, giữa hai bên thỏa thuận trong thời gian 02 tháng kể từ khi đặt cọc, ông K có trách nhiệm hoàn tất thủ tục chuyển nhượng và giấy tờ nhà đất hợp pháp giao cho bà X, bà X có nghĩa vụ giao đủ số tiền 350.000.000 đồng còn lại cho ông K. Nhưng hết thời gian 02 tháng, ông K vẫn không thực hiện đúng như đã thỏa thuận.

2. Bản án 718/2019/DSPT ngày 15/08/2019 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Tóm tắt nội dung: Vào ngày 30/9/2017, bà Vũ Thị Hồng H và ông Võ Trường M là đại diện của Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh bất động sản Thanh Y đã ký Biên bản đặt cọc với nội dung: Bà H đồng ý đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng để mua căn hộ N27-06 thuộc Dự án căn hộ G và bà H có trách nhiệm thanh toán đủ 20% giá trị căn hộ và ký kết hợp đồng mua bán căn hộ với chủ đầu tư trong vòng 15 ngày kể từ ngày đặt cọc. Theo nội dung của Hợp đồng môi giới độc quyền bán căn hộ thương mại qua sàn giao dịch bất động sản thì Công ty Cổ phần Thanh Y là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bị đơn xác nhận toàn bộ số tiền đặt cọc đã chuyển cho Công ty Cổ phần Thanh Y theo thỏa thuận trong Hợp đồng môi giới độc quyền bán căn hộ thương mại qua sàn giao dịch bất động sản số 01/HĐMGĐQ/TY-TYL-2016 ngày 31/8/2016.

3. Bản án 15/2019/DSPT ngày 22/02/2019 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

+ Cấp xét xử: Phúc thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

+ Tóm tắt nội dung: Ngày 26/01/2018 bà Nguyễn Thị Kim A và vợ chồng ông Bùi Ngọc T và bà Vũ Thị U có lập hợp đồng đặt cọc với số tiền 390.000.000 đồng và bà A đã giao đủ số tiền này cho vợ chồng ông T, bà U để thực hiện giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 5 và 5A Tp. B, tỉnh Đắk Lắk với số tiền chuyển nhượng là 2.800.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 17/4/2018 vợ chồng ông T, bà U không làm hợp đồng chuyển nhượng, mà đến ngày 18/5/2018 và 19/5/2018 còn ứng thêm tiền của bà A là 15.000.000 đồng, đồng thời bà U tiếp tục cam kết sẽ thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà A. Các bên thỏa thuận sẽ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhưng đến nay vợ chồng ông T, bà U vẫn không thực hiện với lý do các con của ông T, bà U không đồng ý.

4. Bản án 182/2017/DS-ST ngày 28/09/2017 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

+ Tóm tắt nội dung: Ngày 13/10/2015, bà Nguyễn Thị Hồng V và ông Huỳnh Công T ký Hợp đồng đặt cọc để bảo đảm nghĩa vụ giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.971,1m2 thuộc thửa đất số 118, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Theo hợp đồng đặt cọc, giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 1.000.000.000 đồng. Bà V đặt cọc cho ông T 500.000.000 đồng ngay sau khi hợp đồng đặt cọc được Văn phòng công chứng Phú Thịnh chứng nhận. Tuy nhiên, sau đó ông T không thực hiện đúng như cam kết.  Nay  bà  V  yêu  cầu  hủy  Hợp  đồng  đặt cọc giữa bà với ông T; buộc ông T trả lại số tiền đã nhận 500.000.000 đồng và bồi thường 500.000.000 đồng.

5. Bản án 268/2017/DSST ngày 19/07/2017 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm.

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Tóm tắt nội dung: Ngày 12/10/2015 bà NH và bà NN đã ký thỏa thuận về việc đặt cọc, hứa mua bán và chuyển nhượng một phần nhà ở và một phần quyền sử dụng đất ở có diện tích 34,7m2 tại địa chỉ 227/46 đường Y, Phường N, Quận J, Thành phố H với giá 800.000.000 đồng. Theo bản thỏa thuận bà NH đã đặt cọc cho bà NN số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 6 tháng. Sau khi nhận tiền đặt cọc bà NN không thực hiện các cam kết về việc lập bản vẽ để tách thửa và còn đem tài sản thế chấp ở ngân hàng. Bà NH đã nhiều lần liên hệ với bà NN để giải quyết nhưng bà NN luôn né tránh không liên lạc được. Đã hết thời hạn đặt cọc nhưng bà NN không hề thực hiện nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận nên bà NH mới khởi kiện bà NN.

6. Bản án 30/2018/DS-ST ngày 29/11/2018 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng

+ Tóm tắt nội dung: Theo “Hợp đồng mua bán nhà đất và nhận tiền cọc” viết ngày 31/3/2018 do bà Thoa cung cấp thì giữa bà T và ông Q có thỏa thuận mua bán 02 lô đất tại hồ sơ 241S-1 và hồ sơ 242S-1với tổng giá trị chuyển nhượng là 1.280.000.000 đồng, bà T đã đặt cọc cho ông Q số tiền 100.000.000đ, hai bên thỏa thuận ông Q chịu trách nhiệm bàn giao mặt bằng, phối hợp nhận phân lô đất tái định cư và bà T ra công chứng giao đủ tiền còn lại trong thời hạn 20 ngày kể trừ ngày ký hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên đến nay các bên vẫn chưa thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng.

7. Bản án 03/2018/DSST ngày 29/01/2018 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

+ Cấp xét xử: Sơ thẩm

+ Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

+ Tóm tắt nội dung:  Ngày 05/12/2016 bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Nguyễn Văn G có viết giấy cam kết đặt cọc, theo hợp đồng ông G sẽ bán cho bà P 01 lô đất tại địa chỉ tổ 32,K109/116 đường Phạm Như Xương, phường H, quận L, thành phố Đ với giá bán là 270.000.000 đồng có sổ đỏ. Thời gian thực hiện hợp đồng khoảng 45 ngày kể từ ngày viết giấy thỏa thuận, chia làm 3 đợt thanh toán. Tổng cộng bà P đã đặt cọc cho ông G số tiền 170.000.000 đồng. Kể từ ngày nhận cọc đến ngày ra công chứng, ông G không thực hiện như hợp đồng đã cam kết. Bà P yêu cầu ông G trả lại số tiền đặt cọc nhưng ông G vẫn không trả. Qua nhiều lần tìm ông G để đòi lại tiền,ông G đã trả lại cho bà P 60.000.000 đồng vào hai lần. Bà P đề nghị Tòa án buộc ông G phải trả tiếp số tiền đặt cọc còn lại là 110.000.000 đồng.

Xuân Hiền
460


Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về