Bản án XX/2019/HSST ngày 12/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BN ÁN XX/2019/HSST NGÀY 12/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 và ngày 15/8/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2019/HSST ngày 10/7/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Tuấn H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987; tại Bình Phước; HKTT: tổ 2, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Phạm Lễ K, sinh năm: 1951 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959;

Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/6/2019 cho đên nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: bà Lê Kiều D, sinh năm 1988; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, Bình Phước (vắng)

Người làm chứng: ông Nguyễn Tiến P, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp Minh T, xã T, huyện Đ, Bình Phước (vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 07giờ 00phút, ngày 11/10/2018, Phạm Tuấn H đi bộ từ nhà mình ra đường D20 để đi mua bánh mỳ, sau khi mua bánh mỳ xong H đi ngang qua vựa Cua “Lê D” do chị Lê Kiều D làm chủ thuộc Tổ 4, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì thấy trên ghế Salon ở trong tiệm có 02 điện thoại di động hiệu Iphone 5 và Iphone 6Plus đang cắm sạc không có người trông coi nên H đã đi vào trong lấy trộm 02 chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần. Sau khi lấy trộm được 02 chiếc điện thoại di động H đi bộ ra đường QL14 rồi đi đến nhà bạn tên T (chưa rõ lai lịch) ở khu phố P, phường T, thành phố Đ để chơi, tại đây H gặp Nguyễn Tiến P thì H đã kể lại sự việc lấy trộm tài sản cho P và T nghe, đồng thời H nhờ P cầm 02 chiếc điện thoại di động mà H vừa lấy trộm được đem trả lại cho chị D thì P và T đồng ý. Cùng ngày, khi phát hiện bị mất 02 chiếc điện thoại di động chị Lê Kiều D đã đến Công an phường T để trình báo sự việc. Qua làm việc Phạm Tuấn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Sau đó Công an phường T đã chuyển giao toàn bộ hồ sơ đến Công an thành phố Đ để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền (bút lục số 30, 31, 51-69) Tại Kết luận định giá tài sản số 138 ngày 05/11/2018 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận:

Điện thoại di động hiệu Iphone 5 16Gb, hàng chính hãng, màu trắng bạc, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường; trị giá 1.000.000 đồng.

Điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 16Gb, hàng chính hãng, màu trắng bạc, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường; trị giá 4.000.000 đồng.

Tng cộng: 5.000.000 đồng. (bút lục số 34).

Quá trình điều tra, truy tố, Phạm Tuấn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp được đã trả lại cho người bị hại.

Tài sản tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Apple Iphone 5 16Gb, số SCRI: C33K2PYYDTWF, số IMET: 013553003826982, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6 Plus 16Gb, màu trắng bao số SCRI: EK1NJ3YSG5QF, số IMET: 352066061089707 đã qua sử dụng (bút lục số 35. Ngày 29/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại điện thoại di động hiệu Apple Iphone 5 màu trắng, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường và điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6 Plus màu trắng bạc đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường cho chủ sở hữu (bút lục số 36) Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm (bút lục số 62-63).

Ti bản cáo trạng số 90/CT – VKS – ĐX ngày 08/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Phạm Tuấn H về tội:“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giữ nguyên bản cáo trạng số 90/CT – VKS – ĐX ngày 08/7/2019 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H từ 09 đến 12 tháng tù.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, lời trình bày của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Tuấn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số 90/CT – VKS – ĐX ngày 08/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản, vật chứng của vụ án đã thu giữ được cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 11/10/2018 bị cáo lợi dụng vào sự sơ hở của chị Lê Kiều D lén lút thực hiện hành vi lấy trộm một điện thoại di động hiệu Apple Iphone 5, loại 16Gb, màu trắng, trị giá 1.000.000đồng và một điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6 Plus, loại 16Gb, trị giá 4.000.000đồng; Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 5.000.000đồng. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã trúy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở và căn cứ pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, trong quá trình thực hiện tội phạm bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự. Song chỉ để có tiền tiêu xài cá nhân một cách nhanh chóng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng cho người dân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể vào năm 2006 đã bị kết án về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Đến năm 2016 và năm 2017 bị UBND phường Tân Bình, thành phố Đ ra quyết định xử phạt hành chính bằng biệp pháp giáo dục tại phường, xã đều về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, bị cáo đước áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú song bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 09 đến 12 tháng tù theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi lấy trộm bị cáo đã tự nguyện trả lại tài sản cho người bị hại để khắc phục hậu quả xảy ra và mặc dù bị cáo có nhân thân xấu nhưng đã được xóa án tích do vậy cần áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để cần xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không xem xét áp dụng với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Kiều D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về vật chứng vụ án: Điện thoại di động hiệu Apple Iphone 5, loại 16Gb, số SCRI: C33K2PYYDTWF, số IMET: 013553003826982, màu trắng, đã qua sử dụng và điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6 Plus, lạoi 16Gb, màu trắng, số SCRI: EK1NJ3YSG5QF, số IMET: 352066061089707 đã qua sử dụng được Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết lại.

[5] Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 50, 38; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 21/6/2019.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án XX/2019/HSST ngày 12/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:XX/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về