Bản án 17/2019/HS-ST ngày 31/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn N, sinh ngày 17/6/2000, tại huyện C, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 1/12; Con ông Trần Văn K, sinh năm 1976 và bà Hà Thị N, sinh năm 1978.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị tạm giam ngày 26/02/2019 cho đến nay.

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1991. (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng:

1. Bà Hà Thị N, sinh năm 1978 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Ông Nguyễn Văn T (Ba G), sinh năm 1961 (có mặt).

3. Bà Trần Thị B, sinh năm 1961 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

4. Ông Nguyễn Hoàng Anh K, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 26/02/2019, Trần Văn N đi bộ từ ấp T, xã T đến ấp T, xã M, huyện C thấy trong nhà của Nguyễn Trung T không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Nhiều lén đi vào trong nhà lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone 5S để trên giường và mở tủ gỗ lấy 11.543.000 đồng của T rồi đi về nhà. Sau đó, Nhiều đem điện thoại di động Iphone 5S đến tiệm của Nguyễn Hoàng Anh K ở thị trấn Mỹ L nhờ chạy chương trình và lấy 11.543.000 đồng cất giấu trong bụi cây ở khu vực cầu “Cống” thuộc ấp T, xã T cách nhà Nhiều khoảng 01km. T phát hiện bị mất trộm tài sản, trình báo cơ quan Công an. Cùng ngày, Nhiều đến Công an xã Mỹ H đầu thú.

Tại Bản cáo trạng số 15/CT.VKS ngày 19 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Trần Văn N. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu hồi giao trả lại cho bị hại nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: vật chứng thu giữ là 01 điện thoại di động Iphone 5S màu trắng, mặt sau có dán giấy màu vàng, đã qua sử dụng đã được Cơ quan điều tra giao trả lại cho bị hại là phù hợp nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai của bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra: Tài sản bị mất trộm là 01 điện thoại di động Iphone 5S để trên giường và 11.543.000 đồng như nội dung vụ án đã nêu. Cơ quan điều tra đã thu hồi, trao trả lại cho bị hại nên bị hại không yêu cầu gì thêm.

Nguyễn Hoàng Anh K nhận chạy chương trình điện thoại di động Iphone 5s, nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có, đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra nên không xử lý đối với hành vi của Kiệt là có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, bị hại và những người làm chứng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà Kiểm sát viên đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ trên, đã có đủ cơ sở xác định: lợi dụng thời điểm buổi trưa vắng người qua lại và sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone 5S để trên giường và 11.543.000 đồng trong tủ gỗ của bị hại để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, đang ở độ tuổi lao động, lẽ ra bị cáo phải tích cực lao động để tạo thu nhập chân chính phục vụ cho nhu cầu của bản thân và chăm lo cho gia đình, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất, đạo đức nhưng ngược lại vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động cực nhọc, bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, điều này cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, học lực thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được giao trả lại số tiền và tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết.

[6]. Đối với Nguyễn Hoàng Anh K nhận chạy chương trình điện thoại di động Iphone 5s, nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có, đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra nên không xử lý đối với hành vi của Kiệt là có căn cứ.

[7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 06 (tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2019.

Căn cứ Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 31/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về