Bản án về tranh chấp ly hôn (thống nhất thuận tình ly hôn) số 78/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 78/2022/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2022 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Ngọc R, sinh năm 1976 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1976 (xin vắng mặt).

Cùng cư trú: Ấp 8, xã H, huyện M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn là chị Ngô Ngọc R trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Ngọc R và anh Trần Thanh S tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Cà Mau ngày 29-12-2002. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cự cãi, không thể hàn gắn; vợ chồng đã ly thân khoảng 07 năm. Nay chị R yêu cầu ly hôn với anh S.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Văn T (nam), sinh năm 1995; hiện nay, con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngô Ngọc R không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 19-5-2022, chị Ngô Ngọc R có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại văn bản ngày 24-4-2022, anh Trần Thanh S trình bày: Anh S đồng ý ly hôn với chị R và thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung. Đồng thời, anh S từ chối tham gia hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Ngô Ngọc R và anh Trần Thanh S có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị R và anh S.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Ngọc R và anh Trần Thanh S tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Cà Mau vào ngày 29-12-2002 đúng theo quy định tại Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị R và anh S được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị Ngô Ngọc R, thấy rằng: Tại bản tự khai ngày 24-4-2022, anh S xác định quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn gay gắt, kéo dài, đã đến mức trầm trọng nên đồng ý ly hôn với chị R. Xét thấy, sự thống nhất thuận tình ly hôn của các đương sự là trên tinh thần tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên chấp nhận chị R ly hôn với anh S.

[4] Về nuôi con chung: Chị Ngô Ngọc R và anh Trần Thanh S có 01 người con chung tên Trần Văn T (nam), sinh năm 1995. Hiện nay, con chung đã trưởng thành, điều kiện phát triển về thể chất và khả năng nhận thức bình thường nên chị R và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Tài sản chung, nợ chung: Chị Ngô Ngọc R và anh Trần Thanh S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị Ngô Ngọc R phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của chị R.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Ngọc R ly hôn với anh Trần Thanh S.

2. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Ngọc R và anh Trần Thanh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Án phí sơ thẩm: Chị Ngô Ngọc R phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 15 tháng 3 năm 2022, chị Ngô Ngọc R đã dự nộp án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0010353 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Ngô Ngọc R và anh Trần Thanh S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

240
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn (thống nhất thuận tình ly hôn) số 78/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:78/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện U Minh - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 14/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về