Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 75/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 75/2023/HS-ST NGÀY 28/09/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần: nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 07/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn H (tên gọi khác: không), sinh ngày 05/7/2005 (tính đến ngày phạm tội ngày 19/6/2023, bị cáo mới 17 tuổi 11 tháng 17 ngày và tính đến ngày xét xử bị cáo là 18 tuổi 02 tháng 23 ngày) tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản M, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số định danh cá nhân: 0142050X33; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1979, con bà Lò Thị G, sinh năm 1984; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; tiền sự: ngày 06/10/2022 bị Công an xã QH xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa nộp phạt.

Nhân thân: ngày 07/9/2020 UBND xã QH ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 06 tháng về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày xét xử (có mặt).

2. Lò Anh D (tên gọi khác: không), sinh ngày 21/11/1998 tại xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản M, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số định danh cá nhân: 014X011701; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Đức S, sinh năm 1967, con bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 14/8/2015 bị TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; ngày 01/11/2021 UBND xã QH ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 3 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày xét xử (có mặt).

- Tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Toà án nhân dân huyên Phù Yên tham gia phiên toà:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lường Văn T, sinh năm 2002; Địa chỉ: bản M, xã QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La “vắng mặt có lý do”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22 giờ 10 phút, ngày 19/6/2023 tổ công tác Công an xã QH làm nhiệm vụ tại khu vực bản M, xã QH, huyện Phù Yên phát hiện một người nam giới đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tổ công tác kiểm tra hành chính, biết đó là Hoàng Văn H. Quá trình kiểm tra, phát hiện bên trong chiếc ba lô có 01 túi khẩu trang đựng 04 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa về cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ: 04 gói trong đó 01 gói được gói bằng giấy bạc, 03 gói được gói bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong các gói là chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 ba lô màu đen; 01 túi nilon màu trắng bên trong có 10 chiếc khẩu trang, một mặt màu xanh, 01 mặt màu trắng.

Mở rộng điều tra, ngày 20/6/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét chỗ ở đối với Lò Anh D, thu giữ 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128Gb, kèm theo thẻ sim 0399X543.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Hoàng Văn H và Lò Anh D khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 17/6/2023, Hoàng Văn H đi xe khách từ huyện Phù Yên, xuống thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để tìm việc làm. Khi đến nơi, H vào quán Game cạnh đường gọi cho D ra đón về chỗ trọ của D. Tại đây H bảo D tìm mua ma túy để sử dụng, D đồng ý và đi bộ ra khu vực bến xe Bus, gặp người đàn ông tên M (không biết địa chỉ) mua được 01 gói heroine với giá 400.000 đồng quay về nhà trọ D lấy một ít ra cùng sử dụng với H, số còn lại D bán cho H với giá 900.000 đồng. H đồng ý sẽ chuyển khoản trả cho D. Mua được ma túy, H chia gói ma túy ra thành 10 gói nhỏ, cất giấu trong túi nilon đựng khẩu trang để trong ba lô của H. Sau đó H sử dụng hết 06 gói, còn lại 04 gói H tiếp tục cất giấu trong ba lô. Sáng ngày 19/6/2023 H mượn điện thoại của một thanh niên cùng khu trọ của D, gọi cho Lường Văn T hỏi vay số tiền 900.000 đồng để trả tiền xe đi về nhà. T đồng ý, H bảo T chuyển khoản vào số tài khoản của D. T đã chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản của D. Khoảng 16 giờ ngày 19/6/2023 H lên xe khách về Phù Yên và xuống xe đi bộ đến địa phận bản M, xã QH thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang thu cùng cùng vật chứng, còn Lò Anh D thì bị bắt trong trường hợp khẩn cấp.

Ngày 20/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên tiến hành mở niêm phong, cân tịnh 04 gói ma túy tổng khối lượng là 0,326 gam, cụ thể: gói thứ nhất, ký hiệu H1=0,038 gam; gói thứ hai, ký hiệu H2=0,092 gam; gói thứ ba, ký hiệu H3 = 0,101 gam; gói thứ 4, ký hiệu H4=0,050 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 1565/KL-KTHS ngày 21/6/223 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Kết luận:

Mẫu ký hiệu từ H1 đến H4 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine,...khối lượng của mẫu gửi giám định là H1=0,083gam; H2=0,092gam; H3=0,101gam; H4=0,050gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,326gam; loại Heroine (heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và Lò Anh D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tuyên bố bị cáo Lò Anh D về tội Mua bán trái phép chất ma túy và áp dụng căn cứ pháp luật xử phạt các bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 12 đến 15 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Anh D từ 24 đến 30 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì của Công an huyện Phù Yên niêm phong, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở;

01 mảnh giấy bạc; 03 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc ba lô, màu đen, kích thước dài 40cm x rộng 30cm, trên ba lô có dãy chữ Adidas, có séc khóa và 02 dây đeo màu đen cũ; 01 túi nilon, có kích thước dài 20cm x rộng 12cm, một mặt có chữ “khẩu trang cao cấp Ami 4 lớp, nhãn hiệu nhatlinh”, bên trong có 10 chiếc khẩu trang mặt màu xanh, mặt màu trắng, thu giữ của bị cáo Hoàng Văn H, do đều là vật không có giá trị, không sử dụng được.

+ Trả lại cho bị cáo Lò Anh D 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12Promax 128GB màu trắng, bên trong có số sim 0399.X.543 do không liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ do bị cáo Lò Anh D phạm tội mà có.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ 30 phút ngày 19/6/2023 tại trụ sở Công an xã QH; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 19/6/2023 bị cáo Hoàng Văn H đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,326 gam Heroine để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; Lò Anh D có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, nhằm thu lợi bất chính đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS, quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đều xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo đều là đối tượng nghiện chất ma túy, đã từng bị xử phạt hành chính do vi phạm pháp luật và có nhân thân xấu; tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lò Anh D có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo Hoàng Văn H khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91 về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và khoản 1 Điều 101 BLHS để áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Các bị cáo đều nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Hoàng Văn H khi bị bắt đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị, không có công việc và thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì của Công an huyện Phù Yên niêm phong, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; 03 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc ba lô, màu đen, kích thước dài 40cm x rộng 30cm, trên ba lô có dãy chữ Adidas, có séc khóa và 02 dây đeo màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 túi nilon, có kích thước dài 20cm x rộng 12cm, một mặt có chữ “khẩu trang cao cấp Ami 4 lớp- dùng một lần, nhãn hiệu nhatlinh”, bên trong có 10 chiếc khẩu trang mặt màu xanh, mặt màu trắng; 01 phong bì niêm phong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi giữ khẩn cấp đã bóc mở. Xét đều là vật không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.

-Đối với 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12Promax 128GB màu trắng, bên trong có số sim 0399.X.543 thu giữ của bị cáo Lò Anh D do không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với số tiền 500.000đ do bị cáo Lò Anh D phạm tội mà có cần truy thu nộp ngân sách nhà nước [7] Đối với người đàn ông tên M theo lời khai của bị cáo D, đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý.

[8] Đối với Lường Văn T là người cho bị cáo Hoàng Văn H vay số tiền 900.000 đồng. Quá trình điều tra, xác định T không biết H vay số tiền trên vào việc mua trái phép chất ma túy, nay anh T không yêu cầu bị cáo H có trách nhiệm trả số tiền trên, do đó HĐXX không xem xét, giải quyết.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Cấn tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2023.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Lò Anh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Anh D 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2023.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3.Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì của Công an huyện Phù Yên niêm phong, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở;

01 mảnh giấy bạc; 03 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc ba lô, màu đen, kích thước dài 40cm x rộng 30cm, trên ba lô có dãy chữ Adidas, có séc khóa và 02 dây đeo màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 túi nilon, có kích thước dài 20cm x rộng 12cm, một mặt có chữ “khẩu trang cao cấp Ami 4 lớp-dùng một lần, nhãn hiệu nhatlinh”, bên trong có 10 chiếc khẩu trang một mặt màu xanh, một mặt màu trắng; 01 phong bì niêm phong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi giữ khẩn cấp đã bóc mở.

- Trả lại cho bị cáo Lò Anh D 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12Promax 128GB màu trắng, bên trong có số sim 0399.X.543 vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Truy thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Lò Anh D do phạm tội mà có.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 69/BB-GNVC ngày 08/9/ 2023 giữa Công an huyện Phù Yên và Chi cục THADS huyện Phù Yên).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hoàng Văn H và Lò Anh D, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2023).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

26
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 75/2023/HS-ST

Số hiệu:75/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phù Yên - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về