Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 14/2022/HS-ST

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 14/2022/HS-ST NGÀY 05/05/2022 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Thị Ch, sinh ngày 01/01/1975.

Nơi sinh tại huyện VB, tỉnh LC.

Nơi cư trú: Thôn HTr, xã NCh, huyện VB, tỉnh LC.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Không biết trữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Tiền án: Không. Tiền sự: không.

Con ông Vàng A N, sinh năm 1953 (đã chết), con bà Sùng Thị Pà, sinh năm 1951. Địa chỉ: xã NCh, huyện VB, tỉnh LC.

Chồng: Sùng A Sỉ, sinh năm 1972 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1997 con nhỏ nhất sinh năm 2007. Hiện đều trú tại xã NCh, huyện VB, tỉnh LC.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2021, hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

+) Người bào chữa Ch bị cáo Vàng Thị Ch là: Bà Phạm Thị Hoa H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.

+) Người làm chứng: Anh Chảo A Ph, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn H, xã NCh, huyện VB, tỉnh LC. Người làm chứng vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 16 giờ ngày 20 tháng 12 năm 2021, Công an xã Nậm Chày nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà Vàng Thị Ch đang có hành vi phạm tội về ma túy nên đã triển khai lực lượng để kiểm tra. Khi được Công an yêu cầu có tài liệu, đồ vật gì liên quan đến ma túy thì tự giác giao nộp, Ch đã tự giác lấy ở trên mặt chiếu trải trên giường cạnh vị trí Ch đang ngồi ra 26 gói giấy trắng có dòng kẻ, 01 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu đen bên trong đều chứa chất bột khô màu trắng vón cục giao nộp Ch Công an xã và khai nhận đây là ma túy của Ch đang tàng trữ để sử dụng Ch bản thân. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành thu giữ vật chứng. Tiến hành khám xét nơi ở của Vàng Thị Ch đã phát hiện và thu giữ trong chiếc bát treo trên xà nhà trong Ph ngủ 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen. Ch khai nhận đây là nhựa thuốc phiện của Ch đang tàng trữ để sử dụng.

Về nguồn gốc số ma túy Ch khai: Về nguồn gốc ma túy thu giữ, bị can Vàng Thị Ch khai nhận vào sáng ngày 19/12/2021 gặp một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường liên thôn Hỏm Trên, xã Nậm Chày. Ch đã hỏi mua được của người này 01 gói Heroine gói bằng túi nilon màu xanh và 01 gói nhựa thuốc phiện gói bằng túi nilon màu trắng với giá 200.000 đồng với mục đích để sử dụng Ch bản thân. Sau đó Ch về nhà cất giấu gói nhựa thuốc phiện trong chiếc bát treo trên xà nhà trong Ph ngủ còn gói Heroine thì cất giấu trên giường ngủ. Đến chiều ngày 20/12/2021, Ch mang gói Heroine ra chia tách rồi gói vào 26 gói giấy trắng, 01 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu đen thì bị Công an xã phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 21/GĐMT ngày 28/12/2021 của Ph KTHS Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Toàn bộ số chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Vàng Thị Ch là loại chất ma túy Heroine có tổng khối lượng là 2,99 gam; chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ của Vàng Thị Ch là nhựa thuốc phiện có khối lượng là 16,51 gam.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 09/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố bị cáo Vàng Thị Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vàng Thị Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị Ch từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù và phạt 5.000.000đ đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa Ch bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Thị Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị Ch 03 năm và không phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo Vàng Thị Ch khai nhận: Do nghiện chất ma túy, 16 giờ ngày 20/12/2021 bị cáo đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 2,99 gam Heroine và 16,51 gam nhựa thuốc phiện thì bị bắt quả tang.

Căn cứ vào Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ- CP ngày 20/02/2018 của Chính phủ quy định việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của bộ luật hình sự năm 2015, xác định: Các chất ma túy Heroine và nhựa thuốc phiện không được quy định trong cùng một điểm của khoản 1, 2, 3, 4 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó cộng khối lượng 2,99 gam Heroine và 16,51 gam nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì:

+ Đối với khối lượng của 2,99 gam Heroine thì tính tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Heroine so với mức tối thiểu 05 gam được Heroine quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 59,8% + Đối với khối lượng của 16,51 gam nhựa thuốc phiện thì tính tỷ lệ phần trăm về khối lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu 500 gam nhựa thuốc phiện được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 3,3%.

Cộng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Heroine và nhựa thuốc phiện với nhau để xác định tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của cả hai chất ma túy là 59,8% + 3,3%. = 63,1% (thuộc trường hợp dưới 100%).

Đối chiếu với quy định về khối lượng của nhóm chất ma túy Heroine, nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với từ chất đó được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là dưới 100% thuộc trường hợp quy định tại Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .

Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Vàng Thị Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai truy tố là đúng người, đúng tội.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm Ch xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và có tiền án tại bản án số 50/2015/HSST ngày 10/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, xử phạt Vàng Thị Ch 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến nay đã xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh, tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà đua đòi, nghiện chất ma túy nên ngày 20/12/2021 bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 19,50 gam Heroine, nhựa thuốc phiện để sử dụng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích Ch xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng Thị Ch không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự Ch bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Vàng Thị Ch không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt bổ sung để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[6]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy Ch Vàng Thị Ch vào ngày 19/12/2021, quá trình điều tra không xác định được lý lịch nên không có căn cứ để xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

Đối với đề nghị của người bào chữa Ch bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị Ch 03 năm tù và không phạt tiền đối với bị cáo. Xét thấy, đề nghị mức hình phạt và hình phạt bổ sung của người bào chữa Ch bị cáo là chưa tứng xứng với hành vi phạm tội nên không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình, hình phạt bổ sung để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[7]. Về vật chứng:

Đối với 2,99 gam Heroine và 16,51 gam nhựa thuốc phiện. Cơ quan giám định đã trích mẫu 0,32 gam Heroine và 3,30 gam nhựa thuốc phiện để thực hiện giám định là có căn cứ nên không đề cập vấn đề giải quyết.

Đối với 2,67 gam Heroine và 13,21 gam nhựa thuốc phiện còn lại cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vàng Thị Ch phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị Ch 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù và phạt bổ sung 5.000.000đ (năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/12/2021.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy 2,67 gam Heroine và 13,21 gam nhựa thuốc phiện (chi tiết vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 09/3/2022).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vàng Thị Ch phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo Bản án: Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

133
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 14/2022/HS-ST

Số hiệu:14/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Văn Bàn - Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về