Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (loại Heroine) số 47/2020/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH

BẢN ÁN 47/2020/HS-ST NGÀY 23/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23/11/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2020/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn Kh, sinh ngày 10/8/1992 tại: xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: xóm N, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Bùi Văn N, sinh năm 1962 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1964 (Đã chết); Vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1995; Con: Con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/07/2020. Được trích xuất và hiện có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Văn C, sinh ngày 10/02/1991 tại: xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Bùi Văn C, sinh năm 1964 và bà Bùi Thị Thức, sinh năm 1962 (Đã chết); Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/07/2020. Có mặt.

- Người chứng kiến:

+ Ông Bùi Văn D, sinh năm 1989; Trú tại: xóm Trắng Đá, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

+ Anh Bùi Văn L, sinh năm 1964; Trú tại: xóm Trắng Đá, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07/7/2020, Bùi Văn Kh gọi điện cho Bùi Văn C rủ C cùng đi đến huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng thì C đồng ý. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, Kh điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 21E1-xxxxx đến đón C tại khu vực xóm N, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình, sau đó C điều khiển xe mô tô chở Kh cùng đi đến huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày thì cả hai đến nơi, tại đây Kh một mình điều khiển xe mô tô đi tìm mua ma túy, Kh gặp một người đàn ông không quen biết và mua được từ anh ta 01 gói nilon màu đen, bên trong có 03 gói nilon màu đen đều có chứa ma túy với giá 10.000.000đ. Sau khi mua được ma túy, khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày Kh quay lại chỗ C đang đợi, sau đó C điều khiển xe mô tô chở Kh ngồi sau mang theo ma túy đi về. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi cả hai đi đến địa phận xóm Trắng Đá, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì bị Tổ công tác của Cơ quan công an huyện L phối hợp với công an xã Y bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình bắt giữ, do lo sợ trách nhiệm nên Kh đã ném số ma túy mua được xuống lề đường bên phải theo hướng đi nhưng cơ quan công an đã kịp thời phát hiện và thu giữ. Tổ công tác của cơ quan công an huyện L đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng thu giữ được và đưa Bùi Văn Kh, Bùi Văn C về trụ sở làm việc.

Khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Bùi Văn Kh và Bùi Văn C, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không thu giữ tài liệu đồ vật gì.

Ngày 08/7/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 59, trưng cầu Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hòa Bình giám định chất bột màu trắng thu giữ trên người Bùi Văn C và Bùi Văn Kh. Tại bản kết luận giám định số 208/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng trong 03 gói trong phong bì niêm phong ghi “vật chứng thu giữ của Bùi Văn C và Bùi Văn Kh khi bắt quả tang” gửi giám định có tổng khối lượng 36,46 gam là ma túy, loại Heroine”.

Về vật chứng của vụ án:

- Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; 02 Điện thoại di động tình trạng đã qua sử dụng được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện L chờ xử lý;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn xanh-đen, Biển kiểm soát 21E1- xxxxx thu giữ trong quá trình bắt quả tang, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, hiện đạng lưu giữ tại kho vật chứng Công an huyện L, được tách ra xác minh làm rõ và xử lý sau theo quy định.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bùi Văn Kh và Bùi Văn C đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 28/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn C và bị cáo Bùi Văn Kh về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện Kiểm sát công bố bản luận tội. Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Bùi Văn Kh từ 10 năm 6 tháng tù đến 11 năm tù; Xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 10 năm đến 10 năm 6 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo do không có tính khả thi.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định được lưu giữ trong phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình.

- Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu trắng đen, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 chiếc sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại A5, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 chiếc sim”;

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn xanh-đen, Biển kiểm soát 21E1- xxxxx, tiếp tục giao Cơ quan Công an huyện L xử lý theo quy định.

Các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát. Các bị cáo không có lời nói sau cùng trước khi HĐXX nghị án.

Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả thẩm vấn và tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của các bị cáo Bùi Văn Kh và Bùi Văn C có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07/7/2020; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 208/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình; lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 07/7/2020, các bị cáo Bùi Văn Kh và Bùi Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 36,46 gam với mục đích sử dụng cho bản thân. Bùi Văn Kh và Bùi Văn C là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của Bùi Văn Kh và Bùi Văn C phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố các bị cáo Bùi Văn Kh và Bùi Văn C về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hnh vi tàng trữ 36,46 gam với mục đích sử dụng cho bản thân của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây nghiện làm hại cho sức khỏe, các bị cáo nhận thức được những quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, các bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra. Bị cáo Bùi Văn Kh là người chủ động rủ rê bị cáo C đi mua ma túy để cả hai cùng sử sụng. Bị cáo Bùi Văn C là người hưởng ứng tích cực, cùng nhau đi mua ma túy. Tuy các bị cáo có cùng nhau thực hiện tội phạm nhưng do nhất thời nảy sinh ý định, không có sự bàn bạc thống nhất, phân công từ trước nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.

[4]. Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[5]. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét về nhân thân các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sinh ra và lớn lên làm ăn tại địa phương, các bị cáo không chịu tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Đối với bị cáo Kh có hoàn cảnh gia đình đặc biệt: vợ tàn tật, có 2 đứa con nhỏ nhưng bị cáo đã không chú tâm lao động chân chính để nuôi gia đình, chăm sóc vợ con.Tuy nhiên tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự hối hận về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Đối với bị cáo Bùi Văn Kh, mẹ vợ bị cáo là người có công với cách mạng, vợ bị cáo là người khuyết tật. Do đó, các bị cáo được hưởng thêm các tình tết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

[6]. Về mức hình phạt: HĐXX xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để dăn đe giáo dục đối với các bị cáo và để các bị cáo có thời gian cai nghiện, dứt bỏ chất ma túy trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng….., do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, đang ở cùng với gia đình, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho các bị cáo, tài liệu điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với mẫu vật ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì của PC09- Công an tỉnh Hòa Bình mang tên Bùi Văn Kh và Bùi Văn C, mép dán niêm phong có dấu đỏ của phòng PC09-Công an tỉnh Hòa Bình, có chữ ký xác nhận của giám định viên thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu trắng đen, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 chiếc sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại A5, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 chiếc sim, đây là phương tiện các bị cáo đã sử dụng để liên lạc, rủ rê mua ma túy để cùng sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn xanh- đen, Biển kiểm soát 21E1- xxxxx thu giữ trong quá trình bắt quả tang, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, hiện đạng lưu giữ tại kho vật chứng Công an huyện L, nên tiếp tục giao Cơ quan Công an huyện L xử lý theo quy định.

[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[11]. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Kh và bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ vào khoản điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Kh 10 ( Mười ) năm 06 ( Sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Căn cứ vào khoản điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 10 ( Mười ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì của PC09- Công an tỉnh Hòa Bình mang tên Bùi Văn Kh và Bùi Văn C, mép dán niêm phong có dấu đỏ của phòng PC09-Công an tỉnh Hòa Bình, có chữ ký xác nhận của giám định viên.

- Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu trắng đen, điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn 01 chiếc sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số loại A5, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 chiếc sim.

Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/ 11/2020 giữa Công an huyện L với Chi cục Thị hành án dân sự huyện L.

- Tiếp tục giao Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn xanh-đen, Biển kiểm soát 21E1- xxxxx để xử lý theo quy định.

4. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo Bùi Văn Kh, Bùi Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

48
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (loại Heroine) số 47/2020/HS-ST

Số hiệu:47/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạc Sơn - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về