Bản án về tội tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 38/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 38/2023/HS-ST NGÀY 29/06/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ, TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận P, Thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/TLST – HS ngày 12/5/2023 đối với bị cáo:

ĐÀO HOÀNG P (P); giới tính: nam; sinh năm 1992 tại Thành phố H; Nơi đăng ký HKTT: 142/9 (số cũ 332/4) Đường C, Phường H, quận N, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Đào Văn T; Con bà: Nguyễn Thị M; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 29/7/2020, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/6/2021, chưa thi hành các khoản án phí hình sự sơ thẩm, bồi thường dân sự, án phí dân sự sơ thẩm.

Nhân thân: Ngày 06/9/2010, bị Tòa án nhân dân quận S, Thành phố H xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/8/2022 (có mặt).

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguyễn Tấn A, sinh năm 1987 (vắng mặt).

BĐịa chỉ: 121/22 đường L, Phường M, quận N, Thành phố H.

2/ Vũ Hoàng Đăng C, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: 10F, Khu phố 6, phường X, Quận K, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 30/8/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N, Thành phố H thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thị V bị Công an quận P bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy lúc 01 giờ 30 phút cùng ngày tại số nhà 142/9 (số cũ 332/4) Đường C, Phường H, quận N, Thành phố H thì phát hiện trong phòng ngủ lầu 2 có Đào Hoàng P, Vũ Hoàng Đăng C và Nguyễn Tấn A là những người bạn của P có biểu hiện sử dụng ma túy. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trong tủ quần áo có 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, trên bàn có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, tại sát mép cửa ra vào bên phải có 01 hộp nhựa màu hồng bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, cân tiểu ly, các đoạn ống hút được cắt nhọn một đầu, túi nylon đựng ma túy chưa sử dụng.

Qua test nhanh ma túy bằng phương pháp thử nước tiểu cho kết quả P, A và C dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Đào Hoàng P khai nhận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu để trên bàn là ma túy tổng hợp loại đá P mua được của một người đàn ông không quen biết vào sáng ngày 30/8/2022 đem về để sử dụng. P đã dùng dụng cụ ma túy tự chế, lấy ma túy ra mời A và C sử dụng cùng. Số ma túy còn lại để trên bàn thì bị Công an bắt quả tang phát hiện. Riêng 05 gói tinh thể còn lại là của bạn P tên T ở Bình Dương cho P cách đây khoảng 03 tháng để sử dụng. P không biết nhà T ở đâu, cũng không rõ nhân thân lai lịch. Do P dùng thử thấy loại ma túy này thấy kém chất lượng nên P cất đi không dùng đến.

Qua làm việc đối chất giữa P với A và P với C, cả ba cùng khai nhận: Sáng ngày 30/8/2022, P gọi hẹn A và C đến nhà P giúp sửa chữa máy lạnh phòng ngủ và dọn dẹp phòng cho P. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì P lấy ma túy của mình mua về và dùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế bằng ống thủy tinh (nỏ), vỏ chai nước suối, ống hút nhựa bỏ ma túy vào rồi bày ra bàn phòng ngủ của mình, đưa cho A và C cùng sử dụng chung không thu tiền sử dụng ma túy xem như trả công phụ giúp dọn dẹp nhà cho P. Sau đó, cả 03 lần lượt lăn ra ngủ tại phòng ngủ của P cho đến khi Công an đến kiểm tra bắt quả tang khi thực hiện Lệnh khám xét chỗ ở đối với Lê Thị V có phòng ngủ cùng lầu 02 của căn nhà.

Lê Thị V là cháu ruột của P, khi bị bắt có khai nhận đã bán cho Đào Hoàng P 01 gói ma túy vào tối ngày 29/8/2023 để sử dụng nhưng chưa trả tiền. P không thừa nhận có sự việc trên. Qua đối chất cả hai không có kết quả.

Tại bản Kết luận giám định số 5014/KL – KTHS ngày 08/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H kết luận:

+ Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,7198g, loại Methamphetamine.

+ Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3066g, loại Methamphetamine.

+ Gói 3: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m3 cần giám định, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 10,4959g, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 03 gói niêm P bên trong chứa ma túy; 02 hộp nhựa; cân điện tử; các đoạn ống hút; 50 túi nylon chưa qua sử dụng và 02 điện thoại di động.

Tại bản cáo trạng số 28/CT – VKS.PN ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận P đã truy tố bị cáo Đào Hoàng P về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 và tội “Tổ chức sự dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận P phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Hoàng P từ 06(sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 14 (mười bốn) năm đến 16 (mười sáu) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy và những vật chứng không còn giá trị sử dụng như ống hút nhựa, hộp nhựa… Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại vì bị cáo khai không sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy, bị cáo trực tiếp đi gặp đối tượng để mua.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 cân điện tử tiểu ly hiệu Amput.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo P khai nhận: Sáng ngày 30/8/2022, bị cáo hẹn A và C là bạn đến nhà giúp sửa chữa máy lạnh phòng ngủ và dọn dẹp phòng cho bị cáo. Sau khi xong việc, đến khoảng 10 giờ cùng ngày bị cáo lấy ma túy của mình đã mua về và đem bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bị cáo tự chế bằng ống thủy tinh (nỏ), vỏ chai nước suối, ống hút nhựa bỏ ma túy vào rồi đưa cho A và C cùng sử dụng chung, không thu tiền sử dụng ma túy, xem như trả công phụ giúp dọn dẹp nhà cho bị cáo. Sau đó, cả 03 lần lượt lăn ra ngủ tại phòng ngủ của bị cáo cho đến khi Công an đến kiểm tra bắt quả tang khi thực hiện Lệnh khám xét chỗ ở đối với Lê Thị V có phòng ngủ cùng lầu 02 của căn nhà, thu giữ được số lượng ma túy như trong bản Kết luận giám định số 5014/KL – KTHS ngày 08/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H kết luận, bao gồm:

+ Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,7198g, loại Methamphetamine.

+ Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3066g, loại Methamphetamine.

+ Gói 3: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m3 cần giám định, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 10,4959g, loại Methamphetamine.

Tổng cộng khối lượng ma túy là: 13,5223g, loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của Nguyễn Tấn A, Vũ Hoàng Đăng C trong quá trình điều tra, phù hợp với tang vật chứng thu giữ tại hiện trường khi lập biên bản phạm tội quả tang … nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi cất giữ khối lượng 13,5223g, loại Methamphetamine để sử dụng như nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo đã cung cấp ma túy, địa điểm (phòng ngủ của bị cáo) và dụng cụ ma túy bị cáo tự chế để cho 02 đối tượng Vũ Hoàng Đăng C và Nguyễn Tấn A cùng sử dụng ma túy là đã phạm vào tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “ Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố H đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Do bị cáo phạm 02 tội nên cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý loại độc dược là các chất ma túy, làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự xã hội.

Xét, về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu do ngày 06/9/2010, bị Tòa án nhân dân quận S, Thành phố H xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích do ngày 29/7/2020, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/6/2021, chưa thi hành các khoản án phí hình sự sơ thẩm, bồi thường dân sự, án phí dân sự sơ thẩm nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cân nhắc khi lượng hình nhằm có bản án công tâm, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nhưng cũng thể hiện được sự khoan hồng của Nhà nước nhằm giúp bị cáo nhận thức, sửa đổi, tu chí chấp hành hình phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng.

[3]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 03 gói niêm P ma túy sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 hộp nhựa; 05 đoạn ống hút các màu và 50 túi nylon nhỏ chưa qua sử dụng là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 điện thoại di động gồm 01 hiệu Nokia và 01 hiệu Realme thu giữ của bị cáo P, bị cáo khai để sử dụng liên lạc cá nhân không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 cân điện tử tiểu ly hiệu Amput là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo không có thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Lê Thị V là cháu ruột của bị cáo P, khi bị bắt có khai nhận đã bán cho P 01 gói ma túy vào tối ngày 29/8/2023 để sử dụng nhưng chưa trả tiền. Bị cáo P không thừa nhận có sự việc trên. Qua đối chất cả hai không có kết quả nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Tấn A và Vũ Hoàng Đăng C là những người được P cho ma túy để cùng sử dụng, do không xác định được khối lượng ma túy A và C đã sử dụng nên không có căn cứ để xử lý hình sự. Ngày 31/8/2022, Công an Phường H, quận N, Thành phố H đã lập Biên bản xứ lý vi phạm hành chính về an ninh trật tự và thực hiện các thủ tục đề nghị đưa A, C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với đối tượng tên T là người bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo đem về sử dụng, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Đào Hoàng P (P) phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đào Hoàng P (P) 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (Mƣời lăm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2022.

[3]. Áp dụng khoản 1, điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 (ba) gói niêm P ma túy sau giám định, bên ngoài ghi số vụ 5014/1035/2022 (gói 1), (gói 2), (gói 3).

+ 01 (một) hộp nhựa màu hồng;

+ 01 (một) hộp nhựa màu trắng;

+ 02 (hai) đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu cắt nhọn, một đầu được hàn kín;

+ 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh, một đầu cắt nhọn, một đầu được hàn kín;

+ 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đen, một đầu được cắt nhọn;

+ 50 (Năm mươi) túi nylon nhỏ chưa qua sử dụng;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) cân điện tử tiểu ly hiệu Amput.

- Trả lại cho bị cáo Đào Hoàng P:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imel: 359204/05/192112/5, sim số 056619xxxx.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, imel 1: 864751061911130; Imel 2: 864751061911122, sim 1: 093289xxxx, sim 2: 093398xxxx.

(Theo biên bản giao, nhận vật đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/06/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận P, Thành phố H).

[4]. Về hình phạt bổ sung: Không có.

[5]. Về án phí: Áp dng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 201Nghị quyết 326/2016/UBTVQH145 và ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đào Hoàng P phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ để xin xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

32
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 38/2023/HS-ST

Số hiệu:38/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về