Bản án về tội tàng trữ hàng cấm số 08/2020/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 08/2020/HS-ST NGÀY 27/02/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2020/TLST-HS, ngày 12 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Tiến D. Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996 tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn L, sinh năm 1970 và con bà Phạm Thị T, sinh năm 1972, hiện ông bà đang sinh sống tại thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2020 đến ngày 18/01/2020. Được thay đổi pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 07/01/2020, Phan Tiến D đến quán internet trên đường Nguyễn Đức C, phường Ti, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, sử dụng ứng dụng facebook với tài khoản là “T Bảnh”. Trong quá trình truy cập vào mạng xã hội facebook, D có nhắn tin với tài khoản “L Trôi” để mua pháo về sử dụng trong dịp tết. Sau đó D đến khu vực gần Công ty T thuộc buôn S, xã C, huyện Č gặp người một đàn ông (là chủ tài khoản facebook có tên “L Trôi), mua được 02 hộp pháo, trong đó có một hộp loại 49 viên, một hộp chỉ có 47 viên với số tiền là 2.000.000 đồng và đem cất giữ tại nơi ở của D, (tại shop bán quần áo Đ levis, do Dương Văn Đ làm chủ, địa chỉ: số 77 đường Nguyễn Đức C, phường Ti, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk). Đến sáng ngày 15/01/2020, D tiếp tục sử dụng facebook với tài khoản “T Bảnh” nhắn tin cho tài khoản “L Trôi” để đặt mua thêm 04 bệ pháo loại 49 viên, với số tiền là 4.000.000 đồng, được chủ tài khoản này đồng ý. Đến khoảng 15h00 phút cùng ngày, D bắt xe taxi đến khu vực gần Công ty T thuộc buôn S, xã C, huyện Č, tỉnh Đắk Lắk gặp người đàn ông này, mua được 04 hộp pháo, loại 49 viên. Sau khi bán pháo cho D, người đàn ông trên đi về hướng huyện Čư M’gar còn D đợi đón xe taxi để về lại chỗ ở tại số 77 đường Nguyễn Đức C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong lúc đợi xe taxi, D bị lực lượng công an phát hiện có mang theo 04 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (16,5x16,5x10)cm bên ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài, nghi là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ nên tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Về vật chứng của vụ án: Quá trình bắt quả tang, cơ quan điều tra đã thu giữ 04 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (16,5x16,5x10) cm bên ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; Tiến hành khám xét tại nơi ở của Phan Tiến D, cơ quan điều tra thu giữ: 01 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (16,5x16,5x10) cm bên ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 vật gồm 47 ống hình trụ có đường kính 2,35cm, dài 10 cm Tại Kết luận giám định số 972/C09B, ngày 16/01/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 05 khối hình hộp chữ nhật, có kích thước (16,5x16,5x10)cm bên ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 vật gồm 47 ống hình trụ có đường kính 2,35cm, dài 10 cm đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong có chứa thành phần thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 10,7 kg.

Tại Quyết định truy tố số 07/QĐ – VKS ngày 12 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Phan Tiến D về tội: Tàng trữ hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Tiến D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Quyết định đã truy tố.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Tiến D mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng - Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với khối lượng pháo còn lại sau giám định là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định đã mô tả, bị cáo xác định Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xác định trọng lượng, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ 40 phút, ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại Buôn S, xã C, huyện Č, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Phan Tiến D đã có hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo có đầy đủ đặc tính là pháo nổ, khối lượng là 7,1 kg. Qua đấu tranh và khám xét nơi ở của bị cáo D tại số nhà số 77 Nguyễn Đức C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar thu giữ được 3,6 kg hàng cấm là pháo có đầy đủ đặc tính là pháo nổ. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự Tại Điều 191 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

… c) Pháo nổ từ 06 kg đến dưới 40 kg;

[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế về hàng hóa cấm lưu thông trong lãnh thổ. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua pháo nhằm mục đích để đốt là trái pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội do đó cần phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấybị cáo là người có nhân thân tốt phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do không có công việc ổn định và gia đình có hoàn cảnh khó khăn vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với anh Dương Văn Đ, do không biết việc Phan Tiến D tàng trữ hàng cấm trong shop quần áo của mình nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với đối tượng sử dụng tải khoản facebook “L Trôi” là người đã bán hàng cấm cho bị cáo D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Čư M’gar đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Čư M’gar tách ra hành vi của đối tượng trên ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp [6] Về xử lý vật chứng: Đối với khối lượng pháo còn lại sau giám định gồm: 03 hộp pháo hình chữ nhật, có kích thước (16,5x16,5x10)cm bên ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 hộp pháo gồm 47 ống hình trụ có đường kính 2,35cm, dài 10cm là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phan Tiến D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo bị cáo Phan Tiến D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy khối lượng pháo còn lại sau giám định gồm: 03 hộp pháo hình chữ nhật, có kích thước (16,5x16,5x10)cm bên ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài; 01 hộp pháo gồm 47 ống hình trụ có đường kính 2,35cm, dài 10cm (Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2020, giữa Cơ quan điều tra - Công an huyện Cư M’gar và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Tiến D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

42
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ hàng cấm số 08/2020/HS-ST

Số hiệu:08/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư M'gar - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về