Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 252/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 252/2024/HS-ST NGÀY 17/12/2024 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 241/2024/TLST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2778/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2928/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn HH, sinh ngày 14/6/1984 tại L; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã TT, huyện C, tỉnh L; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V, sinh năm 1949 (Đã chết) và bà ĐT K, sinh năm 1949; vợ, con: Có vợ và hai con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; nhân thân: Không; tiền án, tiền sự: Không.

- Bị bắt, tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Công ty TNHH JHQ Trụ sở chính: Số 44-46-48-50, đường T T T, phường Bến Nghé, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Nguyễn PT, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số NT, đường T, Phường NT, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị TH, sinh năm 1998;

Địa chỉ: Số NB, đường AL, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Bà Nguyễn TH, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Số NNN QL, phường ĐT, Quận N2, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3. Bà Phạm TVT, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Số BN, đường NH, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt) 4. Ông Lê ĐTH, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Số NBA, Đường LT, phường T, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

5. Bà Trần TL, sinh năm 1988;

Địa chỉ: BLT, C/c TT, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

6. Bà Ngô ĐTT, sinh năm 2000 Địa chỉ: Ấp TS, xã ĐT, thị xã TB, tỉnh T(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối năm 2021, Nguyễn HH (sau đây gọi là HH) quen biết với một người tên Lê TT, thời điểm này HH bị mất căn cước công dân nhưng cần mở tài khoản ngân hàng để nhận tiền lương (thời điểm đó đang dịch covid 19) nên HH nhờ ông TT đi mở tài khoản ngân hàng tên Lê TT (Số tài khoản: 237xxxx, tại Ngân hàng A). Sau khi ông TT đăng ký xong tài khoản thì HH nhờ ông TT đổi lại số điện thoại đăng ký dịch vụ Internet banking thành số điện thoại của HH để HH quản lý sử dụng tài khoản nêu trên.

Tháng 7/2022, HH làm việc tại JHQ với vị trí công việc Kế toán công nợ. Theo quy trình tại JHQ, khi đến thời kỳ thanh toán tiền hàng cho đối tác, HH sẽ liên hệ với kho dược cụ thể là gặp bà Lê Thị TH để lấy “Phiếu xuất - Nhập kho – Thanh toán” đối chiếu công nợ mà đối tác cung cấp rồi trình cho Tổng giám đốc cụ thể là Ông Nguyễn PT (chủ JHQ) ký duyệt vào “Phiếu xuất – Nhập kho – Thanh toán” để duyệt số tiền cần chi. Sau đó, HH sẽ soạn thảo “Phiếu đề nghị thanh toán” để trình cho bà Phạm TVT (kế toán trưởng) kiểm tra, sau khi bà TVT kiểm tra thông tin phù hợp thì bà TVT sẽ ký vào “Phiếu đề nghị thanh toán”. Sau đó, HH sẽ cầm tất cả hồ sơ đến gặp bà Ngô ĐTT hoặc bà Nguyễn TKT (kế toán) kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ rồi tiến hành lập “Phiếu chi” và sẽ ký tên vào mục “Người lập phiếu”. Sau đó, HH sẽ cầm bộ hồ sơ quay lại trình cho bà Phạm TVT kiểm tra một lần nữa và ký tên vào “Phiếu chi” tại mục “Kế toán trưởng”. Lúc này, HH sẽ mang toàn bộ hồ sơ đến gặp thủ quỹ là bà Trần TL để kiểm tra lại tra lại lần cuối toàn bộ hồ sơ rồi mới thực hiện việc chi tiền. Thời gian làm việc tại JHQ, HH thấy khi đề xuất chi tiền thanh toán tiền hàng cho đối tác xong thì ít bị kiểm tra lại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền chiếm đoạt số tiền thanh toán tiền hàng cho đối tác của JHQ để trả nợ.

Để thực hiện ý định này, HH tạo một group Zalo bao gồm HH, chị Phạm TVT, chị Ngô ĐTT và tài khoản Zalo giả tên VVH (do HH tự tạo mạo danh nhân viên Công ty TNHH QTVH, chuyên cung cấp thiết bị y tế) là công ty đối tác của JHQ. HH sử dụng tài khoản zalo VVH nhắn tin vào nhóm trên và đề nghị thanh toán tiền vào tài khoản tên Lê TT (số tài khoản: 237xxxx, tại Ngân hàng A) nên bà TVT và bà ĐTT đều tin là thật và duyệt chi tiền thanh toán tiền hàng cho công ty VH vào tài khoản nêu trên. HH đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của JHQ, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Ngày 18/8/2023, HH lập hồ sơ đề nghị thanh toán công nợ, chi tiền mặt cho nhà cung cấp là công ty VH. Sau khi được duyệt chi và nhận được số tiền này, HH đi nộp tiền mặt vào tài khoản cá nhân người tên Lê TT (Số tài khoản: 237xxxx, tại Ngân hàng A) để chiếm đoạt số tiền 60.000.000 đồng, rồi tiếp tục chuyển số tiền trên vào tài khoản số 018100342xxxx chủ tài khoản tên Nguyễn HH của HH mở tại Ngân hàng TTVN để chiếm đoạt.

Vụ thứ hai: Ngày 24/8/2023, HH lập hồ sơ đề nghị thanh toán công nợ cho công ty VH, đề nghị chuyển vào tài khoản cá nhân người tên Lê TT (Số tài khoản: 237xxxx, tại Ngân hàng A) để chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi nhận được số tiền này, HH chuyển số tiền trên đến tài khoản số 018100342xxxx chủ tài khoản tên Nguyễn HH mở tại Ngân hàng TTVN để chiếm đoạt.

Vụ thứ ba: Ngày 25/8/2023, HH lập hồ sơ đề nghị thanh toán công nợ 48.880.000 đồng cho công ty LLB, sau khi hoàn tất hồ sơ được chi tiền thì HH không cung cấp tài khoản của công ty LLB để thanh toán tiền hàng mà cung cấp tài khoản số 190362537xxxx tên Nguyễn TM, mở tại TB do chủ nợ của HH vay online trên mạng cung cấp nhằm chiếm đoạt số tiền trên trả nợ cho chủ nợ.

Vụ thứ tư: Ngày 25/8/2023, HH lập hồ sơ đề nghị thanh toán công nợ cho nhà cung cấp công ty Y3D với số tiền 206.550.000 đồng, đề nghị chuyển khoản vào tài khoản cá nhân người tên Lê ĐTH (số tài khoản 1903050217xxxx – Ngân hàng TB) - là nhân viên cũ của Công ty TNHH Y3D để bà Phạm TVT và những người khác không nghi ngờ ký vào phiếu chi tiền. Sau khi ông Lê ĐTH nhận được tiền, HH liên hệ ông ĐTH thông báo là JHQ chuyển khoản nhầm tiền và đề nghị ông ĐTH chuyển khoản lại cho Bệnh viện theo tài khoản Lê TT. Ông ĐTH tin tưởng nên chuyển tiền theo yêu cầu của HH và HH chiếm đoạt số tiền 206.550.000 đồng, không thanh toán cho nhà cung cấp.

Vụ thứ năm: Ngày 30/8/2023, HH lập khống hồ sơ đề nghị thanh toán công nợ cho nhà cung cấp là công ty VH bằng cách HH gặp bà Lê Thị TH nói mất 03 Phiếu nhập kho đã thanh toán của công ty VH. Sau đó HH lấy 02 Phiếu nhập kho đã làm phiếu thanh toán trước đó vào các ngày 18/8/2023 và 24/8/2023 với tổng số tiền 110.000.000 đồng để tiếp tục làm phiếu thanh toán khống, đề nghị chuyển vào tài khoản cá nhân người tên Lê TT (Số tài khoản: 237xxxx, tại Ngân hàng A). Sau khi nhận được số tiền này, cùng ngày 30/08/2023, HH đã thực hiện 02 giao dịch chuyển tiền, cụ thể: 40.000.000 đồng vào tài khoản số 962xxxx chủ tài khoản tên “MAI VNH” mở tại A, đây là tài khoản chủ nợ cung cấp để HH chuyển tiền trả; 70.000.000 đồng vào tài khoản 018100342xxxx chủ tài khoản tên Nguyễn HH mở tại ngân hàng V rồi sau đó sử dụng để trả nợ hết.

Vụ thứ sáu: Ngày 30/8/2023, HH có ý định chiếm đoạt tiền của JHQ nên tạm ứng của Bệnh viện số tiền 6.000.000 đồng và nói dối là để đi mua nhu yếu phẩm sử dụng cho các khoa, phòng của bệnh viện, nhưng HH không mua và đã chiếm đoạt số tiền nêu trên và đã tiêu xài hết.

Ngoài ra, doanh thu mua hàng trong năm 2022 của Bệnh viện đạt chỉ tiêu và nhận được chia chiết khấu từ nhà cung cấp là Công ty Y3D với số tiền 12.330.428 đồng. Thay vì số tiền chiếc khấu sẽ được trừ vào số tiền mua hàng của đợt mua hàng sau nhưng HH đã tạo tin nhắn giả mạo lãnh đạo của JHQ nhắn tin yêu cầu Công ty Y3D chuyển tiền chiết khấu vào tài khoản Lê TT (Số tài khoản: 237xxxx, tại Ngân hàng A). Do tin tưởng nên Công ty Y3D đã chuyển tiền theo yêu cầu của HH và HH đã chiếm đoạt số tiền trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là JHQ yêu cầu Nguyễn HH trả lại số tiền 493.760.428 đồng mà HH đã chiếm đoạt.

Tại Bản cáo trạng số 249/CT-VKS-Q1 ngày 25 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn HH về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa kết luận bị cáo Nguyễn HH phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và đánh giá trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 (hai) lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn HH từ 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng đến 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn HH khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Bị cáo không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm. Bị cáo Nguyễn HH đồng ý sẽ bồi thường cho bị hại JHQ số tiền 493.760.428 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn HH tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Từ 18/8/2023 đến ngày 30/8/2023, tại JHQ, số 44-46-48-50, đường T T T, phường Bến Thành, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn HH đã 07 lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tổng số tiền 493.760.428 đồng của JHQ. Khi thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt số tiền nêu trên thì bị cáo Nguyễn HH có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo Nguyễn HH đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm TVT, bà Ngô ĐTT, bà Trần TL, bà Nguyễn TH, bà Lê Thị TH và ông Lê ĐTH trong quá trình điều tra xác định không tham gia bàn bạc, thống nhất cũng như hỗ trợ bị cáo Nguyễn HH thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Đối với các đối tượng (không xác định) nhận tiền do bị cáo Nguyễn HH chiếm đoạt của bị hại là JHQ để trả nợ, qua quá trình điều tra, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn HH là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo cũng như răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn HH có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Từ 18/8/2023 đến ngày 30/8/2023, bị cáo Nguyễn HH đã 07 (bảy) lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tổng số tiền 493.760.428 đồng của JHQ. Do đó, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định từ 18/8/2023 đến ngày 30/8/2023 bị cáo Nguyễn HH chiếm đoạt của JHQ tổng số tiền là 493.760.428 đồng. Vì vậy, có cơ sở buộc bị cáo Nguyễn HH phải có trách nhiệm hoàn trả cho bị hại là JHQ số tiền đã chiếm đoạt là 493.760.428 đồng.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 23.750.417 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn HH phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt Nguyễn HH 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2024.

- Căn cứ các Điều 584, Điều 586 và Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Nguyễn HH bồi thường cho bị hại là JHQ số tiền 493.760.428 đồng.

Thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của JHQ cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo Nguyễn HH còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 23.750.417 đồng.

- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

77
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 252/2024/HS-ST

Số hiệu:252/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 10 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/12/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về