Bản án về tội đánh bạc số 76/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 76/2023/HS-ST NGÀY 18/12/2023 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 18 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, rút gọn, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Trần Văn D; Sinh năm 1970; HKTT và nơi cư trú: TK P, thị trấn P, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Tán T và con bà Hoàng Thị Ch; có 06 chị em ruột, bị cáo là con út. Có vợ là Hoàng Thị H và có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: không.

2. Nguyễn Văn L; Sinh năm 1971; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện Thường Tín; TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Ngọc D và con bà Nguyễn Thị X; Có 04 chị em ruột, bị cáo là con út. Có vợ là Phùng Thị H và có 03 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không.

3. Phùng Văn Q; Sinh năm 1985; HKTT và nơi cư trú thôn V, xã N, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phùng Văn P và con bà Nguyễn Thị S; có 02 chị em ruột, bị cáo là con út. Có vợ là Trương Thị H và có 02 con, lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 05/9/2019 bị Công an huyện Phú Xuyên xử phạt vi phạm hành chính (Phạt tiền) về hành vi đánh bạc.

4. Nguyễn Văn H; Sinh năm 1967; HKTT và nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội: Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 04/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn Th và con bà Phùng Thị H; có 06 chị em ruột, bị cáo là con út. Có vợ là Trần Thị L và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 26/8/2019 bị Công an huyện Phú Xuyên xử phạt vi phạm hành chính (Phạt tiền) về hành vi đánh bạc

5. Hoàng Văn H; Sinh năm 1985; HKTT và nơi cư trú: TK P, TT P, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Hoàng Văn L và con bà Trần Thị Th; Có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Có vợ là Nguyễn Thị Thanh A và có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.

6. Đinh Văn B; Sinh năm 1973; HKTT và nơi cư trú: TK P, TT P, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đinh Văn T và con bà Hoàng Thị U; Có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Có vợ là Nguyễn Thị Thanh A và có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.

Các bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 11/11/2023, Trần Văn D và Nguyễn Văn L đi ăn sáng rồi về nhà của D chơi. Tại đây, D gọi điện cho Nguyễn Văn H , Đinh Văn B đến nhà D đánh bạc đồng thời đi mua 2 bộ bài tú lơ khơ. Khi về nhà thì có B, Q và Hoàng Văn H đến. Sau đó, B, Q, Hoàng H và L bắt đầu tham gia đánh bạc với hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền. Một lúc sau, Nguyễn Văn H đến cũng tham gia. Các đối tượng thống nhất cách chơi như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, chia cho mỗi người 10 quân bài để chơi. Người chia bài được đánh đầu tiên theo vòng bên tay phải đến khi có người đánh hết quân bài trên tay thì thắng (về “nhất”) và kết thúc ván, rồi đếm số quân bài còn lại trên tay những người chơi còn lại để tính tiền, với mức 10.000 đồng/1 quân bài. Nếu người chơi thua không đánh được quân bài nào thì “cháy” và phải trả cho người nhất 150.000 đồng. Nếu ai báo “Sâm” (không bị chặn) thì mỗi người chơi phải trả cho người thắng 200.000 đồng, ngược lại nếu báo “Sâm” bị chặn thì phải đền làng với số tiền tương tự cho mỗi chơi. Nếu đánh quân 2 bị chặn tứ quý, thì người đánh quân 2 phải trả cho người chặn 200.000 đồng. Ngoài ra, khi lên bài được 4 quân 2; 5 đôi hoặc bài cùng một màu (đỏ hoặc đen) thì “tới trắng” và được của những người chơi còn lại 200.000 đồng/1 người. Ai được “Sâm” thì phải bỏ ra 20.000 đồng cho chủ nhà (đã bỏ ra được 3 ván là 60.000 đồng). Các bị cáo đánh bạc đến 10 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Phú Xuyên phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm 60.000 đồng tiền phế (cạnh chiếu bạc); 02 bộ bài tú lơ khơ. Thu giữ của các bị cáo:

+ Nguyễn Văn L, tại chiếu bạc 1.060.000 đồng và 11.020.000 đồng để trong ví. L khai mang theo 12.520.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, L đang thua 440.000 đồng.

+ Phùng Văn Q, tại chiếu bạc 1.300.000 đồng và 1.070.000 đồng để trong ví. Q khai mang theo 1.400.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc, khi chơi bỏ ra trước 330.000 đồng. Khi bị bắt, Q thắng 970.000 đồng.

+ Đinh Văn B tại chiếu bạc 1.850.000 đồng. B mang theo 1.500.000 đồng để sử dụng toàn bộ mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, B thắng 350.000 đồng.

+ Hoàng Văn H tại chiếu bạc 770.000 đồng và tại túi quần sau 500.000 đồng. H khai mang theo 2.040.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, H đang thua 770.000 đồng.

+ Nguyễn Văn H mang theo 800.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, H thắng 170.000 đồng.

+ Trần Văn D 320.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 6, đã qua sử dụng. D khai rủ các bị cáo đến nhà tham gia đánh bạc và là người đi mua bài cho các đối tượng chơi mục đích để được hưởng lợi tiền do các đối tượng bỏ ra nhưng chưa nhận được tiền thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Tổng số tiền các đối tượng dùng để tham gia đánh bạc trong vụ án là 18.260.000 đồng.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/CT-VKS ngày 30/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên đã truy tố các Trần Văn D, Hoàng Văn H, Đinh Văn B, Phùng Văn Q, Nguyễn Văn Hg, Nguyễn Văn L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS;

Tại phiên tòa, phần xét hỏi: Trần Văn D thành khẩn khai nhận, sáng ngày 11/11/2023, D đã cho các bị cáo đến nhà, sử dụng nơi ở của mình đánh bạc để được nhận tiền hồ do các bị cáo bỏ ra, còn bị cáo không tham gia đánh bạc. Đến khoảng 10 giờ 30 thì bị Công an huyện bắt quả tang. Bị cáo bị truy tố về tội “Đánh bạc” là đúng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Các bị cáo Nguyễn Văn L, Hoàng Văn H, Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H, Đinh Văn B, Hoàng Văn H, thành khẩn khai nhận đã tham đánh bạc vào ngày 11/11/2023 tại nhà của bị cáo D và bị cơ quan Công an bắt quả tang với số tiền đánh bạc là 18.260.000 đồng. Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cải tạo tại địa phương.

Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 và các quy định khác của BLHS xử phạt: Bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn L, Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo từ 09 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 – 30 tháng về tội “Đánh bạc”; Đề nghị xử phạt các bị cáo Hoàng Văn H, Đinh Văn B mỗi bị cáo từ 09 - 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền 18.260.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc, trả lại cho Trần Văn D 320.000 đồng không dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu điện thoại và 02 bộ bài các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên là đúng, không đề nghị được tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Xuyên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 11/11/2023, tại nhà ở của bị cáo Trần Văn D, ở tiểu khu P, thị trấn P, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội; Công an huyện Phú Xuyên đã bắt quả tang các bị cáo Trần Văn D, Hoàng Văn H, Đinh Văn B, Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Sâm” tại nhà ở của bị cáo D. Tổng số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc là 18.260.000 đồng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để truy tố, xét xử các bị cáo Trần Văn D, Hoàng Văn H, Đinh Văn B, Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất ổn định trật tự an ninh địa phương, đòi hỏi phải xử lý bằng pháp luật hình sự, vừa để cải tạo giáo dục các bị cáo vừa để răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có đồng phạm mang tính giản đơn, để có căn cứ xử lý các bị cáo cần cá thể hóa hình phạt và xem xét vai trò của các bị cáo trong vụ án.

Đối với bị cáo Trần Văn D không tham gia đánh bạc, nhưng là người sử dụng nơi ở của mình, rủ rê và chuẩn bị công cụ phạm tội cho các bị cáo khác đến đánh bạc, với mục đích thu tiền hồ, dù bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Gá bạc”, do chiếu bạc chỉ có 01 chiếu bạc chơi với 05 người và số tiền đánh bạc dưới mức khởi điểm của điều 322 BLHS, nên bị xử lý với vai trò đồng phạm trong vụ án đánh bạc, vì vậy, hình phạt giành cho bị cáo phải cao nhất trong vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn L, là con bạc tích cực có số tiền đánh bạc cao nhất so với đồng phạm là 12.520.000 đồng, các bị cáo Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H dù số tiền các bị cáo này tham gia không lớn (Q1.400.000 đồng và H 800.000 đồng), song các bị cáo này có nhân thân xấu, nên hình phạt giành cho H, Q, phải ngang bằng với hình phạt của bị cáo D.

Các bị cáo Hoàng Văn H, Đinh Văn B là các con bạc có số tiền đánh bạc nhỏ (H 2.040.000 đồng, B 1.500.000 đồng), hình phạt giành cho các bị cáo này là tương đương nhau và thấp nhất so với các bị cáo khác.

Xét hầu hết các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không bị cáo nào có tình tiết tăng nặng tại điều 52 BLHS, có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đối chiếu với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2022/HĐTP-TANDTC ngày 10/5/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì có đủ điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo theo điều 65 BLHS hoặc áp dụng điều 36 BLHS xử phạt cải tạo không giam giữ, mà không cần thiết phải xử phạt tù, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách, cải tạo cũng đủ giúp các bị cáo hoàn lương, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Do các bị cáo đều là người lao động tự do hoặc làm ruộng, thu nhập thấp, vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với các bị cáo bị phạt cải tạo không giam giữ, đánh bạc với số tiền nhỏ, ít, không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập của họ.

Về vật chứng: Số tiền 18.260.000đ thu giữ trên chiếu bạc và trên người các bị cáo và những người liên quan, là số tiền sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền 320.000 đồng, bị cáo D không sử dụng vào mục đích đánh bạc thì trả lại cho bị cáo. Chiếc điện thoại di động 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng đã qua sử dụng bị cáo D dùng để gọi đồng bọn đến đánh bạc, cần tịch thu xung quĩ nhà nước, 02 bộ bài tú lơ khơ cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D, Hoàng Văn H, Đinh Văn B, Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 58; Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; tuyên phạt:

- Trần Văn D 12 (Mười Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn P, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội kết hợp gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp quận (huyện) có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ Thi hành án treo đến nơi cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định của Điều 62 của luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viên kiểm sát nhân dân cùng cấp.

- Nguyễn Văn L 12 (Mười Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội kết hợp gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp quận (huyện) có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ Thi hành án treo đến nơi cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định của Điều 62 của luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viên kiểm sát nhân dân cùng cấp.

- Phùng Văn Q 12 (Mười Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Nguyễn Văn H 12 (Mười Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H cho UBND xã N, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội kết hợp với gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp quận (huyện) có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ Thi hành án treo đến nơi cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định của Điều 62 của luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viên kiểm sát nhân dân cùng cấp.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điều 58; Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; tuyên phạt:

- Hoàng Văn H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định Thi hành án.

- Đinh Văn B 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định Thi hành án.

Giao các bị cáo Hoàng Văn H, Đinh Văn B cho UBND thị trấn P, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội kết hợp gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

- Không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Hoàng Văn H, Đinh Văn B 4. Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS; tuyên:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 18.260.000 đồng (Mười tám triệu, hai trăm sáu mươi ngàn đồng) là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc và do phạm tội mà có.

- Trả lại bị cáo Trần Văn D số tiền 320.000 đồng (Ba trăm hai mươi ngàn đồng) số tiền bị cáo không dùng vào mục đích đánh bạc - Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, mỗi bộ bài gồm 52 quân bài, một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng đã qua sử dụng có số IMEI 359284069928270, lắp sim số 0983146770.

Toàn bộ tiền và tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên (Lệnh thanh toán ngày 12/12/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/12/2023)

5. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Trần Văn D, Hoàng Văn H, Đinh Văn B, Phùng Văn Q, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

159
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội đánh bạc số 76/2023/HS-ST

Số hiệu:76/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Xuyên - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về