Bản án về tội cướp tài sản và giữ người trái pháp luật số 26/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 26/2024/HS-ST NGÀY 18/12/2024 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN VÀ GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Qđịnh đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024; theo Qđịnh hoãn phiên tòa số: 02/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Văn Đại, sinh năm 1992; HKTT: TDP Nhiêu Hà, thị trấn ĐN, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc GiA1g. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Ng, sinh năm 1972; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Linh Đ (đã chết); con: có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án: 01 tiền án.

Tại Bản án số 66/2021/HS-ST ngày 30/7/2021, Toà án nhân dân Hện Lục Nam, tỉnh Bắc GiA1g xử phạt Đ 04 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây tH  tích” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 BLHS. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đA1g bị tạm giam tại Trại tạm giam Công A1 tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm 1982;

HKTT: Thôn Ân P, xã P Lâm, Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1954; Gia đình có 05 A1h chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1984, Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đA1g bị tạm giam tại Trại tạm giam Công A1 tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên toà).

3. Hà Hoàng Giang, sinh ngày 14/9/2006;

HKTT: Thôn Cộ, xã ĐQ, Hện BT, tỉnh ThA1h Hoá.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn C, sinh năm 1985 và bà Lê Thị H, sinh năm 1987; Gia đình có 02 A1h em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024, đến ngày 20/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa pH  (Có mặt tại phiên toà).

* Người bào chữa cho bị cáo Ngọc: Bà Nguyễn Thị T-Luật sư, Văn phòng Luật sư Đức T1 - Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

Địa chỉ: Số 891 đường ÂC, phường Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

* Người bào chữa cho bị cáo Giang: Ông Hoàng Nhật H1-Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh (Xin vắng mặt).

* Bị hại:

1. Cháu Lê Khắc Q, sinh ngày 13/01/2009 (Vắng mặt);

Người Đ diện cho cháu Q: Ông Lê Khắc H, sinh năm 1985 (bố của H) (Vắng mặt);

Cùng HKTT: Thôn Hiệp Lực, xã BS, HĐL, tỉnh Nghệ A1.

2. Cháu Hà Duy A1, sinh năm 09/11/2007 (Vắng mặt);

Người Đ diện cho cháu A1: Ông Hà Văn T1, sinh năm 1983 (bố của T1) (Vắng mặt);

Cùng HKTT: Thôn Cú Tá, xã TV, Hện LA1g Chánh, tỉnh ThA1h Hóa.

3. Cháu Lô Văn P, sinh năm 12/11/2007 (Vắng mặt);

Người Đ diện cho cháu Q, A1, P: Ông Nguyễn Hữu Q- Phó Bí thư Đoàn xã HS (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: UBND xã Hoàn Sơn, Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1972 (Có mặt);

HKTT: TDP Nhiêu Hà, thị trấn ĐN, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc GiA1g.

2. Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1984 (Có mặt);

HKTT: Thôn Ân P, xã P Lâm, Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

3. Chị Lê Thị H , sinh năm 1987 (Có mặt);

4. A1h Hà Văn C1, sinh năm 1985 (Có mặt);

Cùng HKTT: Thôn Cộ, xã ĐQ, Hện BT, tỉnh ThA1h Hoá.

5. Cháu Lô Văn K1, sinh năm 06/3/2007 (Vắng mặt);

HKTT: Thôn Tân H , xã Yên Khê, HCC, tỉnh Nghệ A1.

6. Cháu Lô Văn T1, sinh năm 05/4/2007 (Vắng mặt);

HKTT: Thôn Tân H , xã Yên Khê, HCC, tỉnh Nghệ A1.

Người Đ diện cho K1, T1: Ông Nguyễn Hữu Q- Phó Bí thư Đoàn xã HS (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: UBND xã Hoàn Sơn, Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Đ, sinh năm 1992 ở TDP Nhiêu Hà, thị trấn ĐN, Hện Lục Nam, tỉnh Bắc GiA1g và Nguyễn Văn N, sinh năm 1982 ở thôn Ân P, xã P Lâm, Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cùng mở Văn phòng tuyển dụng lao động ĐTH có địa chỉ tại thôn Đ2ng Xép, xã Hoàn Sơn, Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh từ đầu tháng 3/2024 để tuyển dụng công nhân thời vụ cung cấp cho các công ty trong khu công nghiệp. Đ và N thuê Hà Hoàng GiA1g, sinh năm 14/9/2006 ở thôn Cộ, xã ĐQ, Hện BT, tỉnh ThA1h Hóa là cộng tác viên cùng làm tuyển dụng lao động với Đ và N.

Từ khoảng giữa tháng 3/2024, Lê Khắc Q, sinh ngày 13/01/2009 ở thôn Hiệp Lực, xã BS, HĐL, tỉnh Nghệ A1, Hà Duy A1, sinh năm 09/11/2007 ở thôn Cú Tá, xã TV, Hện LA1g Chánh, tỉnh ThA1h Hóa, Lô Văn P, sinh năm 12/11/2007 ở thôn Trung H , xã Yên Khê, HCC, tỉnh Nghệ A1 đến văn phòng tuyển dụng ĐTH nhờ tìm việc thì Đ, N Đ2ng ý và bố trí cho Q, A1, P ở tại phòng trọ do Đ và N thuê để cho người lao động ở chờ việc làm, sát với văn phòng tuyển dụng. Trong thời giA1 chờ xin việc, đi làm, Q, A1, P được Đ, N chi trả tiền xe, tiền ứng chi phí sinh hoạt.... tổng cộng số tiền là 1.550.000 Đ2ng. Hai bên thống nhất khi nào đi làm, có tiền lương thì sẽ trả lại cho Đ, N. Tối ngày 18/3/2024, Q, A1, P rủ nhau sA1g thành phố Hà Nội chơi. Đến sáng ngày 20/3/2024, do hết tiền tiêu nên cả nhóm thuê xe taxi quay về phòng trọ. Trên đường đi, Q gọi điện cho Đ nhờ trả tiền taxi hộ thì Đ Đ2ng ý và bảo cả nhóm Q, A1, P đi về văn phòng ĐHT, Đ sẽ thA1h toán tiền taxi giúp. Sau khi nói cHện với Q, Đ nói cho N biết sẽ đòi tiền nhóm của Q (gồm tiền xe taxi và tiền ứng sinh hoạt Đạt đã trả) thì N Đ2ng ý. Sau đó, Đ gọi điện bảo GiA1g khi nào nhóm Q, A1, P về thì đón và đưa vào phòng trọ trông giữ, đợi Đ, N về sẽ đòi tiền, GiA1g Đ2ng ý.

Đến khoảng 12h00 Pt ngày 20/3/2024, Q, A1, P về đến khu trọ thì GiA1g ra đón và đưa cả ba vào ở phòng trọ cạnh văn phòng tuyển dụng ĐHT. Sau khi vào trong phòng trọ, GiA1g nói với Q, A1, P: “Hôm nay chúng mày chết với tao” (để doạ nhóm Q) Đ2ng thời đứng ở cửa phòng trọ trông không cho Q, A1, P đi ra ngoài. Một lúc sau, Đ và N về đến văn phòng. Đ trả tiền taxi cho nhóm Q hết 680.000 Đ2ng rồi bảo GiA1g “Đưa ba thằng nó sA1g bên này”. Thấy vậy, GiA1g đưa Q, A1, P đi từ phòng trọ sA1g văn phòng tuyển dụng. Khi vào trong, N kéo cửa xếp, đóng cửa kính của văn phòng lại. Đ bắt Q, A1, P đứng sát vào góc tường, tay giơ 01 thA1h sắt hộp dài 51cm, Đ lấy ở trong văn phòng, lên dọa đánh. Q lao vào Đ cA1 ngăn thì bị Đ dùng đầu gối chân phải thúc vào bụng. Đ tiếp tục cầm thA1h sắt hộp chỉ vào mặt từng người và nói: “Thằng Q phải trả tao 3 triệu, hai thằng còn lại mỗi thằng 1 triệu”. Khi nhóm Q nói không có tiền trả, Đ chửi tiếp: “Địt mẹ sao chúng mày lại làm vậy”. N nghe vậy thì nói tiếp: “Làm ăn gì bọn này nữa, cộng sổ vào đi, thA1h toán trả tiền xong thì cho về”. Đ nói với N: “A1h biết thì A1h cộng đi”. Sau đó Đ lấy 01 quyển sổ màu đen đưa cho N để ghi chép và cộng các khoản chi phí nhóm Q, A1, P phải trả gồm. N cộng khống các khoản chi phí yêu cầu nhóm Q phải trả tổng số 12.290.000 Đ2ng trong đó Lê Khắc Q là 5.090.000 Đ2ng, Hà Duy A1 là 4.200.000 Đ2ng, Lô Văn P là 3.000.000 Đ2ng. Sau khi ghi xong N đọc cho nhóm Q nghe và bắt ký xác nhận vào phần chi phí tương ứng của từng người. Q, A1, P bị dọa nên sợ và ký xác nhận số tiền phải trả của mình vào quyển sổ do N đưa cho. N tiếp tục nói: “ba thằng mày trả tiền đi, nếu không có tiền trả thì điện cho bố mẹ hoặc người nhà mA1g tiền đến đây thì bọn tao cho về”. Khoảng 2 tiếng sau thấy nhóm A1h Q, A1, P vẫn không có tiền trả, N chửi bới và dùng thA1h sắt hộp của Đ gõ vào chân Q, P, A1 mỗi người 01 cái để tiếp tục gây sức ép. Đ lấy 01 con dao dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm ở trong bếp ra dọa: “Nếu không trả tiền thì mỗi thằng để lại một bàn tay”. Do Q, A1, P đều nói không có tiền trả nên Đ bảo GiA1g lấy điện thoại cho Q, A1, P gọi, nhờ người mA1g tiền đến trả. GiA1g đưa 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr, màu vàng, dung lượng 64GB, được độ theo kiểu dáng Iphone 12 cho Q, A1, P lần lượt liên lạc với người thân. Q gọi cho A1h Lê Khắc H, sinh năm 1985 là bố đẻ của Q, A1 gọi cho A1h Hà Văn T1, sinh năm 1983 là bố đẻ của A1, P gọi Lô Văn T1, sinh năm 05/4/2007 ở Trung Chính, Yên Khê, Con Cuông, Nghệ A1 là bạn của P để vay và mA1g tiền đến trả nhóm Đ, N, GiA1g giúp. Nhưng đều không nhờ được ai. Sau đó, P nói cần dùng sim ở balo bên phòng trọ để Đ nhập tài khoản facebook và liên hệ với người nhà vay tiền nên Đ bảo GiA1g sA1g phòng trọ lấy sim cho P. GiA1g đi sA1g phòng trọ bên cạnh lấy balo của P và 01 chiếc gậy tuýt sắt dài 01m để ở phòng trọ này. Khi về văn phòng tuyển dụng, GiA1g cầm gậy tuýt sắt tiếp tục dọa Q, A1, P. Đ lấy chiếc gậy của GiA1g mA1g sA1g chặn vào tay kéo cửa hai bên của cửa kính, không cho Q, A1, P chạy ra khỏi văn phòng.

P tìm sim trong balo nhưng không thấy nên tiếp tục sử dụng điện thoại, tài khoản facebook của GiA1g là “GiA1g Bếch (Sống theo bản năng)” liên lạc với chú ruột là A1h Lô Văn Đạt, sinh năm 1995 ở Trung H , Yên Khê, Con Cuông, Nghệ A1 hỏi vay 3.000.000 Đ2ng và bảo A1h Đạt cHển khoản cho Lô Văn T1 để A1h T1 mA1g tiền đến trả giúp. A1h Đạt Đ2ng ý. Tuy nhiên, do A1h T1 không có tài khoản nên A1h Đạt không cHển tiền được. A1h T1 nói cHện của P cho A1h Lô Văn K1, sinh năm 06/3/2007 ở Tân H , Yên Khê, Con Cuông, Nghệ A1 biết, rủ A1h K1 cùng cho P vay tiền và mA1g đến văn phòng tuyển dụng trả thay cho P. Sau đó, A1h T1 và A1h K1 đi đến văn phòng tuyển dụng trả cho N 2.200.000 Đ2ng tiền mặt (là tiền của A1h T1) nhưng N nói chưa đủ. Nên A1h K1 cHển khoản từ tài khoản ngân hàng của K1 số 0352163xxx tại ngân hàng MB BA1k của A1h K1 sA1g tài khoản ngân hàng BIDV số 21410002830xxx của Nguyễn Văn N số tiền 800.000 Đ2ng. Sau khi nhận đủ tiền, Đ, N cho P ra khỏi văn phòng. Q, A1 do không có tiền trả, cũng không nhờ được người mA1g tiền đến trả giúp nên vẫn tiếp tục bị giữ ở lại trong văn phòng tuyển dụng ĐHT. Đến 17 giờ 15 Pt cùng ngày, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng Công A1 Hện Tiên Du tiến hành kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ tA1g vật và đưa những người có liên quA1 về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) quyển sổ viết tay bìa màu đen, kích thước 15x10,5 cm - 01 (một) thA1h kim loại hình trụ dài 01 m - 01 (một) thA1h kim loại hình hộp dài 51 cm - 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5 cm.

Tại cơ quA1 Cảnh sát điều tra, Lê Khắc Q, Hà Duy A1 là Lô Văn P viết đơn trình báo toàn bộ sự việc. Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N, Hà Hoàng GiA1g khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân như nêu trên.

Cùng ngày 20/3/2024, Cơ quA1 Cảnh sát điều tra Công A1 Hện Tiên Du đã tiến hành khám nghiệm hiện trường.

Ngày 21/3/2024, Cơ quA1 Cảnh sát điều tra Công A1 Hện Tiên Du đã ra lệnh bắt bị cáo để tạm giam đối với Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N và Hà Hoàng GiA1g. Thu giữ:

- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr, màu vàng, dung lượng 64GB (được độ theo kiểu dA1g Iphone 12) của Hà Hoàng GiA1g.

- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, màu vàng và 2.000.000 Đ2ng của Trần Văn Đ.

- Số tiền 200.000 Đ2ng của Nguyễn Văn N giao nộp.

Ngày 08/5/2024, Cơ quA1 CSĐT Công A1 Hện Tiên Du đã Trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký tại trA1g số 28, 29 của 01 (một) quyển sổ viết tay, bìa màu đen kích thước 15x10,5cm (mẫu giám định A). Tại bản Kết luận giám định số 1190/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công A1 tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- Chữ viết tại phần nội dung trên trA1g số 28, 29 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết của Nguyễn Văn N, SN 1982 ở Ân P, P Lâm, Tiên Du, Bắc Ninh (mẫu so sánh M1) là do cùng một người viết ra.

- Chữ ký, chữ viết đứng tên “Lê Khắc Q” trên trA1g số 28 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Lê Khắc Q, SN 2009 ở BS, Đô Lương, Nghệ A1 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) là do cùng một người viết ra.

- Chữ ký, chữ viết đứng tên “Hà Duy A1” trên trA1g số 29 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Hà Duy A1, SN 2007 ở TV, LA1g Chánh, ThA1h Hóa trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M3) là do cùng một người viết ra.

- Chữ ký, chữ viết đứng tên “Lô Văn P” trên trA1g số 29 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Lô Văn P, SN 2007 ở Yên Khê, Con Cuông, Nghệ A1 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M4) là do cùng một người viết ra.

Về trưng cầu giám định thương tích:

Ngày 17/6/2024, Cơ quA1 CSĐT Công A1 Hện Tiên Du đã Trưng cầu Trung tâm pháp y – Sở y tế, tỉnh Bắc Ninh giám định tỷ lệ % tH  tích đối với Lê Khắc Q, Hà Duy A1, Lô Văn P. Tuy nhiên Q, A1, P kiên Qtừ chối giám định tH  tích, từ chối dẫn giải.

Quá trình điều tra, Hà Hoàng GiA1g trình bày Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N giữ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Wave, màu xA1h xám, BKS 12K7- 5xxx của GiA1g. Cụ thể như sau: Từ khoảng đầu tháng 3/2024, GiA1g được Đ, N xin việc vào làm thời vụ tại một số công ty ở khu công nghiệp Tiên Sơn và lo cho GiA1g ăn, ở tại phòng trọ gần văn phòng tuyển dụng. GiA1g có giới thiệu về văn phòng tuyển dụng để Đ, N lo xin việc cho thêm 05 người có tên là Xuân, Minh, Hiếu, Q, Hải (không rõ thông tin cụ thể) vào làm thời vụ tại một số công ty ở khu công nghiệp Tiên Sơn. Tuy nhiên bản thân GiA1g và những người có tên Xuân, Minh, Hiếu, Q, Hải đều chỉ đi làm một vài ngày thì bỏ việc, đi đâu không rõ. GiA1g vẫn ở lại phòng trọ để làm cộng tác viên cho văn phòng tuyển dụng của Đ, N. Đ đã ghi các chi phí ứng tiền, lo việc, ăn, ở, đi lại... của GiA1g và 05 người này vào 01 quyển sổ ghi chép và yêu cầu GiA1g phải chịu trách nhiệm trả tổng số tiền là 5.550.000 Đ2ng cho Xuân, Minh, Hiếu, Q, Hải. Thấy khoản ghi chép này đúng nên GiA1g Đ2ng ý trả cho Đ, N khoản tiền này và đã trả được 1.210.000 Đ2ng, còn lại chưa trả 4.340.000 Đ2ng.

Đến khoảng 9h00 ngày 13/3/2024, GiA1g điều khiển 01 chiếc xe mô tô, kiểu dáng Honda Wave, màu xA1h xám, BKS 12K7-5xxx của GiA1g đi công việc cá nhân thì Đ gọi điện bảo GiA1g đến văn phòng tuyển dụng ĐHT. Tại đây, Đ và N yêu cầu GiA1g trả số tiền 4.340.000 Đ2ng. Do không có tiền trả, nên GiA1g đã đưa lại chiếc xe mô tô trên cho Đ và N giữ cho đến khi GiA1g trả được nợ. Đến ngày 14/3/2024, N đưa chiếc xe cho A1h Nguyễn Văn PH , SN 1992 ở Tiền Ngoài, Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, Bắc Ninh mượn làm pH  tiện đi lại.

Sau đó, Đ, N và GiA1g bị bắt tạm giam nên A1h PH  vẫn quản lý, sử dụng chiếc xe. Đến ngày 10/8/2024, sau khi được Cơ quA1 Cảnh sát điều tra Hện Tiên Du thông báo thì A1h PH  đã tự giao nộp chiếc xe cho Cơ quA1 điều tra.

Về nguồn gốc xe, quá trình xác minh xác định: Chiếc xe trên có Đ ký chủ sở hữu là Hoàng Thị Diệp, sinh năm 1990 ở Khòn Luộc, Tràng Các, Văn QuA1, Lạng Sơn. Tháng 8/2009, chị Diệp mua chiếc xe trên để làm pH  tiện đi lại. Đến năm 2018, chị bán chiếc xe cho 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi, không làm thủ tục giấy tờ gì. Hiện chị Diệp không nhớ, không lưu giữ thông tin gì liên quA1 người đã mua xe của Diệp.

Hà Hoàng GiA1g trình bày, đầu năm 2024 GiA1g mua lại chiếc xe của 01 người đàn ông ở khu vực Quế Võ, Bắc Ninh với giá là khoảng 4.500.000 Đ2ng của 01 đàn ông khoảng 45 tuổi cùng làm công nhân thời vụ tại công trường ở Quế Võ, Bắc Ninh. Khi mua bán trả tiền mặt, giao xe trực tiếp, không làm thủ tục giấy tờ gì. Hiện GiA1g không nhớ, không lưu giữ thông tin gì liên quA1 người đã bán xe cho GiA1g.

Xét thấy, GiA1g là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe, chiếc xe trên là do GiA1g nợ tiền nên tự nguyện giao cho Đ, N vào ngày 13/3/2024 để làm tin, không có dấu hiệu tội phạm, không liên quA1 hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án. Ngày 25/9/2024, Cơ quA1 Cảnh sát điều tra Công A1 Hện Tiên Du đã trả lại GiA1g chiếc xe trên là phù hợp.

Ngoài ra ngày 27/3/2024, ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1972 ở Nhiêu Hà, ĐN, Lục Nam, Bắc GiA1g là bố đẻ của Trần Văn Đ đến Công A1 Hện Tiên Du và tự nguyện giao nộp cho cơ quA1 điều tra các tài liệu bao gồm:

- 01 (một) Đơn xác nhận sự việc xẩy ra đứng tên người viết là Trần Văn Đ1;

- 01 (một) Đơn xin trình bày/Bản cam kết đứng tên người viết là Hà Duy A1;

- 01 (một) Bản cam kết đứng tên người viết là Lê Khắc Q;

- 01 (một) Bản cam kết đứng tên người viết là Lô Văn P Các tài liệu trên đều có cùng nội dung: “Liên quA1 sự việc xảy ra ở Văn phòng tuyển dụng lao động, A1h Nguyễn Văn N cùng với A1h Đ không có hành vi vi phạm pháp luật gì với chúng cháu; không cho vay nặng lãi; không có hành vi giữ người trái pháp luật; không gây rối trật tự công cộng…; những việc vi phạm này A1h Đ không làm”.

Quá trình điều tra xác định: Sau khi được Cơ quA1 điều tra thông báo việc Trần Văn Đ đã bị khởi tố về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, ngày 25/3/2024, ông Trần Văn Đ1 đã tự tìm, gặp Q, A1, P ở phòng trọ tại Đ2ng Xép, Hoàn Sơn, Tiên Du, Bắc Ninh. Khi đến nơi, ông Đ1 gặp Q, A1, P đA1g ở cùng với chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1991 ở TDP Đình Tảo Địch, phường Tân P, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên (là cộng tác viên tuyển dụng lao động của văn phòng ĐHT với Đ, N trước đó). Qua trò cHện, Q, A1, P đã kể lại nội dung sự việc xảy ra ngày 20/3/2024 như đã trình bày với Cơ quA1 Cảnh sát điều tra cho ông Đ1 nghe. Ông Đ1 xin lỗi Q, A1, P và nhờ Q, A1, P xin giảm nhẹ TNHS cho Đ. Q, A1, P nghe vậy thì mỗi người tự nguyện viết 01 Đơn xin tường trình/Bản cam kết đều có cùng nội dung: “Liên quA1 sự việc xảy ra ở Văn phòng tuyển dụng lao động, A1h Nguyễn Văn N cùng với A1h Đ không có hành vi vi phạm pháp luật gì với chúng cháu; không cho vay nặng lãi; không có hành vi giữ người trái pháp luật; không gây rối trật tự công cộng…; những việc vi phạm này A1h Đ không làm”. Sau khi viết xong, Q, A1, P tự ký vào đơn của mình và đưa cho ông Đ1. Ông Đ1 cũng tự viết 01 Đơn xin xác nhận sự việc xảy ra có cùng nội dung nêu trên và đưa cho A1, Q, P. Q, A1, P đọc lại đơn của ông P rồi ký vào Đơn xác nhận này. Chị Thuý có mặt cũng ký xác nhận. Thấy Q, A1, P gặp khó khăn về việc ăn, ở, sinh hoạt... nên ông Đ1 đã hỗ trợ cho nhóm A1, Q, P số tiền 3.000.000 Đ2ng. Q, A1, P thống nhất giao cho P giữ, sử dụng số tiền này do Q, A1 không bị thiệt hại gì. Đến ngày 27/3/2024, ông Đ1 đã đến Công A1 Hện Tiên Du tự nguyện giao nộp toàn bộ các tài liệu như đã nêu ở trên.

Tại Cơ quA1 điều tra, Đ, N và GiA1g đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 141/CT-VKSTD ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e, h khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự; Truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N và Hà Hoàng GiA1g về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA1:

Bà H , ông C1, ông Đ1, bà X trình bày: ông bà đã tự nguyện bồi thường cho Q, A1, P tiền giúp các bị cáo đến nay ông bà không có ý kiến yêu cầu gì.

Trong phần trA1h luận, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên Qđịnh truy tố và đề nghị Hội Đ2ng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N và Hà Hoàng GiA1g phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”.

Căn cứ điểm d, e, h khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; điểm o, khoản 1, Điều 52; Điều 17, 38, 54, 55, 58 BLHS.

Xử phạt: Trần Văn Đ từ 05 năm 02 tháng tù đến 05 năm 04 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 02 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu C1 cho 2 tội là từ 07 năm 02 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; Điều 17, 38, 54, 55, 58 BLHS (Điều 90, 91, Khoản 1 Điều 101 BLHS đối vưới bị cáo Hà Hoàng GiA1g).

Xử phạt: Nguyễn Văn N từ 05 năm đến 05 năm 02 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 02 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu C1 cho 2 tội là từ 07 năm đến 07 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.

Hà Hoàng GiA1g từ 03 năm 08 tháng đến 03 năm 10 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” và từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu C1 cho 2 tội là từ 05 năm 02 tháng đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án (Bị cáo được trừ thời giA1 bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 20/7/2024).

* Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) thA1h kim loại hình trụ dài 01 m;

- 01 (một) thA1h kim loại hình hộp dài 51 cm;

- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm.

Tịch thu sung quỹ nhà nước:

- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr (độ theo kiểu dáng Iphone 12) , màu vàng.

- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite màu vàng.

Lưu hồ sơ 01 cuốn sổ các bị cáo ghi số tiền các bị hại phải nhận nợ. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Trong phần trA1h luận:

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia trA1h luận với Đ diện Viện kiểm sát về tội dA1h, điều luật áp dụng và mức hình phạt;

Các Bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân Hện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oA1 sai, đề nghị Hội Đ2ng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.

Những người Đ diện cho các bị cáo: không trA1h luận gì về tội dA1h, mức hình phạt, thấy HĐXX là đúng người, đúng tội đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xin HĐXX cho bị cáo được hưởng sự khoA1 hồng.

Người bào chữa cho bị cáo N trình bày bà ThoA1 trình bày: Nhất trí bản luận tội Đ diện VKS, không trA1h luận gì về tội dA1h, điều luật áp dụng, đề nghị HĐXX xem xét thêm tình tiết quy định tại khoản 2 là do có một phần lỗi của bị hại, mức hình phạt như vậy là nặng, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Người bào chữa cho bị cáo GiA1g gửi bà bài chữa trình bày: Nhất trí bản luận tội Đ diện VKS, không trA1h luận gì, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA1: Không có ý kiến, yêu cầu gì, không tham gia trA1h luận gì.

Đ diện VKS đối đáp: người bào chữa đề nghị áp dụng thêm tình tiết là do có 1 phần lỗi của bị hại do bỏ đi và không trả tiền cho các bị cáo nên xảy ra việc vi phạm hình sự của bị cáo thì thấy việc ứng vay mượn tiền không trả là quA1 hệ dân sự, không phải vì lỗi dân sự không trả của bị hại mà các bị cáo vi phạm hình sự. Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò, cân đối hình phạt với các bị cáo khác vẫn giữ nguyên đề xuất như bA1 đầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA1h tụng tại phiên tòa, Hội Đ2ng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Qđịnh tố tụng của cơ quA1 điều tra Công A1 Hện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Qđịnh của Cơ quA1 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Qđịnh tố tụng của Cơ quA1 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các bị hại, Đ diện bị hại, Những Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA1 cháu Lô Văn K1 và cháu Lô Văn T1, vắng mặt tại phiên toà ngày 06/12/2024 Tòa án hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày hôm nay những người nêu trên vẫn vắng mặt, người bào chữa cho bị cáo GiA1g xin vắng mặt, người Đ diện cho các bị hại những người liên quA1 chưa thành niên xin vắng mặt tuy nhiên đã có lời khai tại Cơ quA1 điều tra việc vắng mặt không ảnh hưởng tới việc xét xử vì vậy Hội Đ2ng xét xử vắng mặt các bị hại, Đ diện bị hại, người bào chữa theo thủ tục C1.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quA1 điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản dẫn giải, phù hợp với thời giA1, địa điểm, lời khai những người liên quA1, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Từ khoảng hơn 12 giờ đến 17 giờ 15 Pt ngày 20/3/2024, tại Văn phòng tuyển dụng lao động ĐTH có địa chỉ tại thôn Đ2ng Xép, xã Hoàn Sơn, Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N, Hà Hoàng GiA1g sinh ngày 14/9/2006, đã có hành vi nhốt, giữ và sử dụng 01 thA1h kim loại hình trụ dài 01 m, 01 thA1h kim loại hình hộp dài 51 cm, 01 con dao bằng kim loại dài 34,5 cm đánh, đe dọa để chiếm đoạt số tiền 12.290.000 Đ2ng của Lê Khắc Q sinh ngày 13/01/2009, Hà Duy A1 và Lô Văn P.

Vì vậy, Hội Đ2ng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đ đã phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại các điểm d, e, h; khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn N và Hà Hoàng GiA1g phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự; như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo phạm nhiều tội nên cần tổng hợp hình phạt của nhiều tội trong cùng bản án theo quy định tại điều 55 BLHS.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người khác và quyền sở hữu về tài sản hợp pháp công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất gây mất trật tự trị A1 tại địa pH , gây hoA1g mA1g lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa C1.

[3] Xét vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án có tính chất Đ2ng phạm, tuy nhiên chỉ là Đ2ng phạm giản đơn, các bị cáo không câu kết chặt chẽ, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không có sự phân công, phân nhiệm vụ rõ ràng. Đối với hành vi Cướp tài sản, bị cáo Đ là người khởi sướng và dùng thA1h sắt hộp, con dao dài 34,5 cm để trực tiếp đe dọa và xúi giục GiA1g là dưới 18 tuổi phạm tội do đó vai trò của bị cáo Đ là cao nhất, sau đó là là N tiếp nhận ý chí, cùng thực hiện hành vi phạm tội, giúp sức tích cực cho bị cáo Đ, N chửi bới và dùng thA1h sắt hộp gõ vào chân của bị hại để gây sức ép và cuối cùng là bị cáo GiA1g nhận sự chỉ đạo từ Đ và N để làm việc cũng như thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò của GiA1g là thấp hơn. Đối với hành vi bắt giữ người trái pháp luật các bị cáo cùng nhau thực hiện vai trò Ngng nhau.

[4] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Các bị cáo N và GiA1g là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự lần đầu phạm tội, tuy nhiên lại phạm tội rất nghiêm trọng.

Bị cáo Đ là người có nhân thân xấu ngày 30/7/2021 bị Toà án nhân dân Hện Lục Nam, tỉnh Bắc GiA1g xử phạt Đ 04 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây tH  tích” theo quy định tại điểm d, khoản 3, điều 134 BLHS, phạm tội rất nghiêm trọng, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023 đến nay chưa được xoá án tích, bị cáo lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm theo điểm h, khoản 2, điều 168 BLHS, trong lần phạm tội này của bị cáo còn có Đ2ng phạm là bị cáo GiA1g là dưới 18 tuổi phạm tội do có sự tác động của bị cáo dẫn đến hành vi phạm tội của GiA1g nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o, khoản 1, điều 52 BLHS.

Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, bị cáo Đ gia đình có công với cách mạng: có ông nội là ông Trần Văn Đài là liệt sỹ, bà nội Trần Thị Đèo tham gia kháng chiến được Chủ tịch nước tặng H cH  kháng chiến hạng nhất, H cH  vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ; bị cáo có 01 con nhỏ, vợ chết; bị cáo N có bố đẻ tham gia kháng chiến được tặng H cH  kháng chiến hạng nhất, gia đình vợ có người công với cách mạng, thờ cúng liệt sỹ; bị cáo GiA1g có ông nội là ông Hà Văn Lục tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân cH  kháng chiến hạng 3, bị cáo trong đợt xảy ra cơn bão số 3 năm 2024 tham gia cứu trợ vùng bão bị cô lập được Hội chữ thập đỏ Yên Sơn, Tuyên QuA1g gửi Thư cảm ơn nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo GiA1g phạm tội dưới 18 tuổi, bị cáo còn trẻ, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên cần áp dụng các quy định tại cH  XII BLHS khi Qđịnh hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là phù hợp. Khi Qđịnh hình phạt cần áp dụng mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định theo khoản 1, Điều 101 BLHS.

Do vậy, khi lượng hình Hội Đ2ng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoA1 hồng của Đảng và Nhà nước.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của Đ diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Tiên Du là phù hợp, Hội Đ2ng xét xử xét thấy:

Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi nguy hiểm nên cần thiết phải xử các bị cáo một mức án tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời giA1 nhất định, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa C1, giúp các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.

Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo không mA1g tính tổ chức, chỉ là bột phát, không gây tH  tích gì cho các bị hại, tài sản chiếm đoạt rất nhỏ, các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, đến nay không ai có ý kiến gì, các bị hại và những người liên quA1 đều xin giảm nhẹ và miễn TNHS cho các bị cáo. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS nên áp dụng khoản 1, điều 54 BLHS cho các bị cáo được hưởng dưới khung hình phạt của tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2, điều 168 BLHS và hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2, điều 157 BLHS.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội Đ2ng xét xử xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lẽ ra ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung một khoản tiền đối với bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; Tuy nhiên các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định chỉ đủ nuôi sống bản thân, không có tài sản riêng gì, vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như lời đề nghị của VKS là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Chị Lê Thị H  (là mẹ GiA1g) và chị Nguyễn Thị X (là vợ N) đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần, chi phí đi lại... cho Lê Khắc Q 4.000.000 Đ2ng, Hà Duy A1 3.000.000 Đ2ng. Q và A1 đã nhận đủ số tiền, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác về dân sự, Đ2ng thời có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo.

Ông Trần Văn Đ1 (bố đẻ Đ), A1h Hà Văn C1 (là bố đẻ GiA1g) và chị X đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần, chi phí đi lại... cho Lô Văn P 6.000.000 Đ2ng. P đã nhận đủ tiền, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác về dân sự, Đ2ng thời có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo.

Chị X đã tự nguyện bồi thường cho A1h Lô Văn K1 số tiền 800.000 Đ2ng. A1h K1 đã nhận đủ số tiền này và không yêu cầu N phải bồi thường gì về dân sự.

Quá trình điều tra A1h Lô Văn T1 đã nhận lại tiền, không yêu cầu ai phải trả lại cho T1 thêm khoản tiền gì khác; không yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.

Các ông bà Đ1, X, H , C1 được các bị cáo tác động, tự nguyện bồi thường thay cho Đ, N, GiA1g, không yêu cầu các bị cáo phải trả lại mình những khoản tiền này nên HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) thA1h kim loại hình trụ dài 01 m, 01 (một) thA1h kim loại hình hộp dài 51 cm, 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr, màu vàng, dung lượng 64GB (được độ theo kiểu dA1g Iphone 12) là điện thoại bị cáo GiA1g đưa cho bị hại để hỏi người vay tiền nhằm chiếm đoạt tài sản nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, màu vàng là điện thoại của Đ sử dụng liên lạc với GiA1g và các bị hại nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 (một) quyển sổ viết tay các bị cáo viết để bắt các bị hại nhận nợ là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu vào trong hồ sơ vụ án.

[8] Liên quA1 trong vụ án này:

- Đối với việc bị cáo Hà Hoàng GiA1g trình bày bị Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N giữ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Wave, màu xA1h xám, BKS 12K7-5xxx. Kết quả điều tra xác định: Việc GiA1g giao xe cho Đ, N giữ làm tin là hoàn toàn tự nguyện; không có dấu hiệu của tội phạm chiếm đoạt tài sản. Sự việc chỉ là thỏa thuận dân sự giữa hai bên. Do đó, Cơ quA1 Cảnh sát điều tra Công A1 Hện Tiên Du không xử lý hình sự đối với Đ, N là phù hợp quy định của pháp luật.

- Đối với Lê Khắc Q, Hà Duy A1, Lô Văn P là người bị hại trong vụ án, có hành vi viết Đơn xin tường trình/Bản cam kết (mỗi người viết 01 bản) với nội dung “Đ, N không vi phạm pháp luật...” là sai sự thật của vụ án. Q, A1, P đã đưa các tài liệu này cho ông Trần Văn Đ1 để cung cấp cho cơ quA1 điều tra. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Q, A1, P đều khai báo với cơ quA1 điều tra đúng nội dung sự việc xảy ra bao gồm cả việc bản thân tự viết Đơn xin tường trình/Bản cam kết có nội dung sai sự thật như nêu trên. Việc Q, A1, P viết và cung cấp Đơn xin tường trình/Bản cam kết có nội dung sai sự thật như nêu trên chưa gây cản trở, khó khăn gì cho quá trình điều tra vụ án. Bản thân Q, A1, P là bị hại trong vụ án cùng trình bày mục đích viết, cung cấp Đơn xin tường trình/Bản cam kết chỉ mong muốn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; không nhằm gây cản trở, khó khăn cho quá trình điều tra vụ án. Do đó không đủ căn cứ để xem xét xử lý về hành vi nêu trên đối với Q, A1, P. Cơ quA1 điều tra đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở đối với Q, A1, P là phù hợp.

- Đối với ông Trần Văn Đ1 có hành vi cung cấp các tài liệu Đơn xin tường trình/Bản cam kết, Đơn xin xác nhận sự việc xảy ra với nội dung sai sự thật của vụ án trong quá trình điều tra vụ án. Tuy nhiên, ông Đ1 không mua chuộc hay cưỡng ép Q, A1, P viết Đơn xin tường trình/Bản cam kết. Bản thân ông Đ1 tự viết Đơn xin xác nhận sự việc xảy ra có nội dung sai sự thật là dựa theo nội dung đơn của Q, A1, P tự viết trước đó. Khi làm việc với cơ quA1 điều tra ông Đ1 khai báo đúng về nội dung, nguồn các tài liệu mà bản thân cung cấp; không khai báo giA1 dối, không cung cấp nội dung gì khác sai sự thật liên quA1 trong vụ án. Mục đích bản thân viết, cung cấp các đơn, tài liệu nêu trên chỉ mong muốn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, không nhằm gây cản trở, khó khăn cho quá trình điều tra vụ án. Do đó, Cơ quA1 Cảnh sát điều tra Công A1 Hện Tiên Du không xem xét xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở đối với ông Đ1 về hành vi này là phù hợp.

- Đối với số tiền 1.550.000 Đ2ng mà Đ, N trình bày đã cùng nhau bỏ ra để lo chi phí đi lại, sinh hoạt... và số tiền 680.000 Đ2ng mà Đ trả tiền taxi cho nhóm Q, A1, P vào ngày 20/3/2024. Đ, N đều không yêu cầu Q, A1, P hay ai khác phải trả lại cho Đ, N số tiền này nên không xem xét.

- Đối với số tiền 5.550.000 Đ2ng mà Đ, N trình bày đã cùng nhau bỏ ra để lo chi phí sinh hoạt, xin việc... cho GiA1g và những người có tên Xuân, Minh, Hiếu, Q, Hải. Đ, N đều không yêu cầu GiA1g hay ai khác phải trả lại cho Đ, N số tiền này nên không xem xét.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn N và Hà Hoàng Giang phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”.

Căn cứ điểm d, e, h khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2, Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; điểm o, khoản 1, Điều 52; Điều 17, 38, 54, 55, 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Văn Đ 5 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu C1 cho 2 tội là 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; Điều 17, 38, 54, 55, 58 BLHS.

Xử phạt: Nguyễn Văn N 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu C1 cho 2 tội là 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; Điều 17, 38, 54, 55, 58, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hà Hoàng GiA1g 3 năm 08 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu C1 cho 2 tội là 05 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án (Bị cáo được trừ thời giA1 bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 20/7/2024).

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Qđịnh tạm giam các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Văn N mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS.

+Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) thA1h kim loại hình trụ dài 01 m;

- 01 (một) thA1h kim loại hình hộp dài 51 cm;

- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm.

+Tịch thu sung quỹ nhà nước:

- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr (độ theo kiểu dáng Iphone 12) , màu vàng.

- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite màu vàng.

(Theo Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quA1 điều tra Công A1 Hện Tiên Du và Chi cục Thi hành án dân sự Hện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày 14/11/2024). liên quA1, Người Đ diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

99
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cướp tài sản và giữ người trái pháp luật số 26/2024/HS-ST

Số hiệu:26/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/12/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về