Bản án về tội cố ý gây thương tích số 71/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 71/2021/HS-ST  NGÀY 26/08/2021 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

 Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà  Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2021/HSST ngày 05 tháng  8 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐXXST - HS ngày 11  tháng 8 năm 2021, đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Văn M, sinh năm 1973 (tên gọi khác: Không); Nơi cư trú: Tổ dân phố Ngô T, phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Qu (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1930; Vợ: Lê Thị K; con: 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm  2003); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/02/2018 bị Công an xã Tiên Nội, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Nội, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi đánh nhau. Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Bị hại: ông Lê Hồng T, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố Ngô T, phường  Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- bà Lê Thị D, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố Ngô T, phường Tiên N, thị  xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 26/10/2003; có người giám hộ là bà Lê Thị K, sinh năm 1974; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Ngô T, phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; đều có mặt.

* Người làm chứng: bà Đặng Thị Th, sinh năm 1944; anh Lê Quý T, sinh năm  1987 và ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 24/02/2021, trong lúc Nguyễn Văn M cầm bình ô doa tưới nước chống bụi khu vực đường phía trước cửa nhà của M tại tổ dân phố Ngô T, phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam thì ông Lê Hồng T - SN 1968 ở cùng tổ dân phố điều khiển xe mô tô đi ngang qua. Do bị M tưới nước làm ướt quần và chân mình nên ông T dừng xe lại chửi và hỏi M tưới nước kiểu gì. M trả lời “Ông thích làm gì thì ông làm” từ đó dẫn đến việc giữa ông T và M xảy ra việc cãi chửi nhau, sau đó Nguyễn Văn M đã dùng tuýp sắt gây thương tích cho ông T dẫn đến hậu quả: Ông T bị thương vùng lưng, vai phải, bàn tay phải, được đưa đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam và Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức điều trị, đến ngày 05/3/2021 ông T được ra viện.

Theo bị hại là ông Lê Hồng T cho rằng, trong lúc hai bên chửi nhau, ông đã nhặt 02 viên đá ở vệ đường ném về phía bị cáo M nhưng không trúng và lúc này M đang cầm bình chữa cháy đứng trước cửa nhà chĩa về phía ông nên ông chạy về phía nhà ông Đ thì thấy M cầm 01 đoạn tuýp sắt dài khoảng 01m đuổi ông. Khi ông chạy đến cổng nhà ông Đ thì M đuổi kịp và dùng đoạn tuýp sát vụt ông làm ông bị thương ở lưng, ở tay và cổ ông. Ngoài ra, ông T còn cho rằng lúc ông bị M dùng tuýp sắt đánh ông, còn có Nguyễn Trọng H (con của bị cáo M) cũng tham gia đấm, đá ông.

Theo bị cáo M cho rằng, sau khi hai bên có lời qua tiếng lại với nhau, lúc này ông T liền bẻ lấy đoạn gậy gỗ dài khoảng 90cm, đường kính khoảng 2cm treo ở cột điện xuống dọa đánh bị cáo thì bị cáo chạy vào trong nhà lấy 01 đoạn tuýp sắt tròn dài 1m, đường kính khoảng 2,5cm ra đuổi đánh ông T. Ông T bỏ chạy, vứt đoạn gậy gỗ đi rồi nhặt 02 viên đá ở vệ đường ném về phía M nhưng không trúng. Sau đó ông T tiếp tục bỏ chạy. Khi chạy đến sân nhà ông Nguyễn Văn Đ - SN 1957 là hàng xóm của M thì M đuổi kịp ông T, tay phải M cầm đoạn tuýp sắt, từ phía sau vụt một nhát trúng vào lưng ông T, ông T cúi khom người xuống thì M tiếp tục giơ tuýp sắt lên vụt, ông T dùng tay phải đỡ và tóm được đoạn tuýp sắt, hai bên giằng co, kéo nhau ra cổng thì được ông Đ và mọi người vào can ngăn. Bị cáo M khẳng định chỉ có một   mình bị cáo là người gây thương tích cho ông T và cháu H (con của bị cáo) không  tham gia đánh ông T.

* Vật chứng thu giữ: 01 đoạn tuýp sắt tròn dài 01m, đường kính 2,5cm.

Tại  bản  kết  luận  giám  định  pháp  y  về  thương  tích  số  29/21/TgT  ngày  04/05/2021, của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam, kết luận về thương tích của ông Lê  Hồng T như sau: Sẹo nhỏ kẽ ngón I, II bàn tay phải, không ảnh hưởng chức năng;

Vùng lưng ngang đốt sống L1, L2 không còn sưng nề. Hình ảnh thoát vị đĩa đệm L4/L5, trượt L5 không liên quan đến chấn thương ngày 24/02/2021. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01%.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án bị hại và bị cáo không thống nhất với nhau về việc bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa quan điểm của ông T yêu cầu bị cáo M có tránh nhiệm bồi thường cho ông toàn bộ các chi phí mà gia đình ông đã bỏ ra chạy chữa và khoản tiền về tổn thất tinh thần và thu nhập của ông và vợ ông trong thời gian ông nằm viện điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa Hà Nam và Bệnh viện Việt Đức, với tổng số tiền là 70.308.067đ.

Bị cáo M cho rằng: Sau khi bị cáo gây thương tích cho ông T và biết ông T phải điều trị tại Bệnh viện, gia đình bị cáo có đến gia đình ông T xin lỗi và bồi thường tiền thuốc cho ông T nhưng gia đình ông T không chấp nhận, nên ngày  13/8/2021 bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 15.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên để khắc phục hậu quả của vụ án và đề nghị HĐXX xem xét các khoản chi phí của bị hại đưa ra theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số: 68/CT - VKS ngày 05/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã  Duy Tiên đã truy tố Nguyễn Văn M  về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản  1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản Cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2  Điều 51; Điều 36 BLHS, xử phạt Nguyễn Văn M mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ và buộc bị cáo phải khấu trừ một phần thu nhập trong thời gian chấp hành án tương ứng với số tiền từ 400.000đ đến 500.000đ/ tháng; về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho bị hại với tổng số tiền thiệt hại là 25.540.000đ. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và án phí bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Bị hại là ông Lê Hồng T không nhất trí với mức hình phạt và mức bồi thường thiệt hại mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra. Bị cáo M không có ý kiến gì đối với bản luận tội và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất. Ngoài ra bị cáo không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy  Tiên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 24/02/2021, xuất phát từ việc Nguyễn Văn M là  người đang cầm ô doa tưới nước chống bụi trước cửa nhà của mình tại tổ dân phố Ngô T, phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam thì ông Lê Hồng T điều khiển xe mô tô chạy qua. Ông T cho rằng M làm ướt quần và chân của mình nên ông T cho xe mô tô dừng lại chửi M. Tại đây, giữa ông T và M có lời lẽ chửi và thách thức nhau, dẫn đến việc ông T nhặt 02 viên đá ở vệ đường ném về phía M nhưng không trúng ai, sau đó M chạy vào trong nhà lấy 01 đoạn tuýp sắt tròn dài 1m, đường kính 2,5cm ra chạy về phía ông T, ông T chạy đến cổng sân nhà ông Nguyễn Văn Đ - SN 1957 là hàng xóm của M thì M đuổi kịp ông T, lúc này M từ phía sau, tay phải cầm tuýp sắt vụt một nhát trúng vào lưng ông T, ông T cúi khom người xuống thì M tiếp tục giơ tuýp sắt lên vụt vào người ông T theo hướng từ trên xuống dưới, ông T dùng tay phải đỡ và tóm được một đầu đoạn tuýp sắt, sau đó hai bên giằng co kéo nhau ra cổng nhà ông Đ thì được ông Đ và mọi người vào can ngăn. Hậu quả: Ông T bị thương tích ở kẽ ngón I, II; sưng nề ngang đốt sống thắt lưng. Kết quả giám định, ông T bị tổn hại  01% sức khỏe. Ngày 10/5/2021 ông Lê Hồng T có đơn yêu cầu cơ quan Công an thị  xã Duy Tiên khởi tố đối với Nguyễn Văn M theo quy định của pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn M là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe người khác được pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó của Nguyễn Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số: 68/CT - VKS ngày 05/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp lý.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được thể hiện bằng việc bị cáo chủ động nộp khoản tiền 15.000.000đ tại Chi   cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên để khắc phục hậu quả với bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo đã từng tham gia quân ngũ, bố của bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt vì đang phải nuôi con nhỏ và mẹ già (có xác nhận của chính quyền địa phương). Đối chiếu với quy định của pháp luật bị cáo được các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4] Xét về tính chất của vụ án: Từ nhận định trên, nhận thấy: Bị cáo tuy là người đã có 01 tiền sự năm 2018 và đã được xóa. Song bị cáo là người có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội trong lúc nóng giận tức thời. Mặt khác, thương tích của bị hại cũng chỉ ở mức khởi điểm của điều luật quy định. Hơn nữa, trong vụ án này, để dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cũng xuất phát có phần lỗi của người bị hại là đã chửi và tấn công bị cáo trước khi bị cáo gây thương tích cho bị hại. Vì vậy, sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX xét thấy không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của gia đình,chính quyền địa phương cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Điều này cũng phù hợp với quan điểm về xử lý bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra. Ngoài ra bị cáo còn bị khấu trừ 10% thu nhập trong thời gian chấp hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLHS.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ do người bị hại là ông Lê Hồng T cung cấp để yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M bồi thường thiệt  hại.  Căn  cứ  Điều  584;  585;  589;  590  Bộ  luật  dân  sự  và  Nghị  quyết  số  03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, HĐXX chỉ chấp nhận những thiệt hại thực tế của bị hại trong thời gian điều trị thương tích, cụ thể như sau: Biên lai khám bệnh ngày 24/02/2021 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam: 767.200đ; chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện Việt Đức: 9.938.867đ; Biên lai thuốc ngày 05/3/2021: 4.364.000đ; 01 lượt taxi cấp cứu: 150.000đ; 01 lượt taxi vận chuyển (phiếu thu ngày  29/02/2021):  1.320.000đ;  01  lượt  taxi  vận  chuyển  (phiếu  thu  ngày  05/3/2021): 450.000đ; thu nhập thực tế của ông Lê Hồng T bị mất trong thời gian điều trị (từ ngày  24/02/2021 đến ngày 05/3/2021) là 300.000đ/ngày x10 ngày = 3.000.000đ; tiền công người chăm sóc khi nằm viện 200.000đ/ngày x10 ngày= 2.000.000đ; tiền bồii thường tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm bằng 03 tháng lương cơ sở là  1.490.000đ/tháng x 03 tháng = 4.470.000đ. Tổng thiệt hại về sức khỏe của ông Lê  Hồng T là: 26.460.067 đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi nghìn không trăm sáu mươi bẩy đồng).

[6] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trong vụ án này,  bị hại là ông Lê Hồng T cho rằng lúc ông bị M dùng tuýp đánh, ông còn có Nguyễn Trọng H (con của bị cáo M) cũng tham gia đấm, đá ông. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, cháu Nguyễn Trọng H phủ nhận lời khai của bị hại. Lời khai của những người làm chứng trong vụ án là bà Đặng Thị Th, anh Lê Quý T   và ông Nguyễn Văn Đ cũng như bị cáo M đều khẳng định không ai nhìn thấy cháu H tham gia đánh ông T ngày 24/02/2021. Mặt khác, ngoài lời khai trên, ông T cũng không có tài liệu chứng cứ nào để chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ. Do vậy, HĐXX không có căn cứ chấp nhận quan điểm của ông T về viêc cháu H là người đã tham gia đánh ông ngày 24/02/2021.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đoạn tuýp sắt tròn dài 01m, đường kính  2,5cm. Qua đấu tranh xác định đây là công cụ mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy;

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều  51; Điều 36 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

* Xử phạt: Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày UBND phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam nhận được bản án và quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho UBND phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của luật thi hành án hình sự.

* Áp dụng khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự: Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn M trong thời gian chấp hành án, mỗi tháng 500.000đ( Năm trăm nghìn đồng/ tháng)

 2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 589; 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại là ông Lê Hồng T tổng số tiền là 26.460.067đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi nghìn không trăm sáu mươi bẩy đồng). Đối trừ khoản tiền  15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) do bị cáo Nguyễn Văn M đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 13/8/2021, theo Biên lai số 0001731, để khắc phục hậu quả sẽ chuyển trả cho bị hại Lê Hồng T được nhận. Nay bị cáo Nguyễn Văn M còn phải bồi thường tiếp cho bị hại là ông Lê Hồng T số tiền là 11.460.067đ (mười một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn không trăm sáu mươi bẩy đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 đoạn tuýp sắt tròn dài 01m, đường kính 2,5cm. (Toàn bộ đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan  Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày  06/8/2021) .

4.  Án  phí:  Áp  dụng  Điều  136  Bộ  luật  tố  tụng  hình  sự  và  Nghị  quyết  326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp: Tiền án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và tiền án phí dân sự sơ thẩm: 573.000đ (Năm trăm bẩy mươi ba nghìn đồng).

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


29
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội cố ý gây thương tích số 71/2021/HS-ST

Số hiệu:71/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Duy Tiên - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/08/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về