Bản án về tội buôn bán hàng cấm số 35/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 35/2021/HS-ST NGÀY 29/11/2021 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 29/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2021/TLST-HS ngày 01/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-HS ngày 04/11/2021 đối với bị cáo:

Nguyn Tri Ph, sinh ngày 01/02/1995 tại Gia Lai; trú tại: Thôn M, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Th (đã chết) và bà Ngô Thị Yến A; có vợ Lê Hạ V (đã ly hôn) và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án (Tại bản án số 27/2013/HS-ST ngày 04/7/2013, bị Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai xử phạt 05 tháng 16 ngày tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, đã chấp hành xong hình phạt tù và được trả tự do tại phiên tòa, nhưng đến ngày 21/6/2021 mới nộp án phí hình sự sơ thẩm); bị tạm giữ từ ngày 06/02/2021 đến ngày 09/02/2021, bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Đinh Th, sinh năm 1990; địa chỉ: Làng L, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Đinh Th: Ông Nguyễn Thành Tr là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Gia Lai - Chi nhánh số 2. Có mặt.

2. Nguyễn Minh S, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

3. Nguyễn Ngô Yến P, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người làm chứng:

1. Trần Quốc T, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

2. Đặng Văn C, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 06/02/2021, tại đường Nguyễn Hữu Hảo, thuộc Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, Công an phường A bắt qủa tang Nguyễn Tri Ph đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 81F1-138.xx, vận chuyển 01 bao tải màu trắng, bên trong có 08 hộp giấy, Ph khai nhận là pháo hoa nổ để bán cho người khác. Công an phường A đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong tang vật, phương tiện bàn giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A xử lý theo quy định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tri Ph tại Thôn M, xã T, thị xã A, nhưng không tạm giữ được tài liệu, đồ vật gì. Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 04/02/2021, tại khu vực cầu sông Ba thuộc Tổ M, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; Nguyễn Tri Ph bán cho anh Đinh Th 01 hộp pháo hoa nổ với giá 1.200.000đồng.

Cơ quan CSĐT Công an thị xã A đã tạm giữ các vật chứng gồm: 08 hộp pháo hoa nổ hiệu CAKE 49 SHOTS (được niêm phong trong thùng giấy); 01 bao cước nhựa màu trắng trên bao ghi chữ DrNaPah-V6320; 01 xe Honda hiệu Wave màu sơn trắng, biển số 81F1-138.xx, số khung 114092, số máy 1451938; 01 điện thoại di động hiệu Huawei, màu đỏ có gắn sim: 08540471xx, 07725707xx, số Imel: 867615046570823, 867615046610835, SN: YGC66R19111010738; 01 hộp pháo hoa nổ hiệu CAKE 49 SHOTS do Đinh Th giao nộp (được niêm phong trong thùng giấy); 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 014421 do công an huyện Đ cấp ngày 13/5/2020 của xe 81F1-138.xx, mang tên Nguyễn Minh S.

Tại Kết luận giám định số: 165/KLGĐ ngày 18/02/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Gia Lai kết luận: 08 (tám) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ “CAKE 49 SHOTS-T4049”, bên trong mỗi hộp đều có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đựng trong thùng giấy các tông thứ nhất chuyển đến giám định là pháo hoa nổ, khối lượng 14,4 kg; 01 (một) hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ “CAKE 49 SHOTS-T4049”, bên trong hộp có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau trong thùng giấy các tông thứ hai chuyển đến giám định là pháo hoa nổ, khối lượng 1,8 kg. Hoàn lại: 08 (tám) hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ “CAKE 49 SHOTS-T4049” còn lại sau khi trích mẫu giám định đựng trong 01 (một) thùng giấy các tông bàn giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tri Ph khai nhận: Vào khoảng gần Tết Nguyên đán năm 2021, Ph nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về bán lại để kiếm lời. Ngày 20/01/2021, Ph đón xe khách lên xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để tìm mua pháo hoa nổ. Tại đây, Ph mua của một người đàn ông (không xác định được lai lịch) 10 (mười) hộp pháo hoa nổ với giá 2.800.000đồng. Sau đó, Ph mang về nhà tại Thôn M, xã T, thị xã A cất giấu để tìm người bán lại, Ph phát hiện 01 hộp pháo hoa nổ bị ướt nên vứt ở đoạn suối trước nhà. Ngày 04/02/2021, Ph liên lạc với anh Đinh Th để bán cho anh Th 01 hộp pháo hoa nổ với giá 1.200.000đ. Ngày 06/02/2021, Phan Thanh T (tên thường gọi là Lác, sinh năm 1990, trú tại Tổ B, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai) sử dụng số điện thoại 09716262xx liên lạc với Ph qua số 08540471xx nói: Có người hỏi mua pháo, Ph đồng ý bán và nói giá 900.000đ/hộp (Ph không biết người mua là ai). Khi Ph chở pháo hoa đến khu vực đường Nguyễn Hữu Hảo thuộc Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, để bán thì bị bắt quả tang.

Đi với 01 hộp pháo hoa nổ Ph vứt ở suối trước nhà, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Số tiền 1.200.000đồng Ph bán pháo hoa nổ cho Đinh Th, Ph đã tiêu xài cá nhân hết nên không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã triệu tập, xác minh đối tượng Phan Thanh T, nhưng không có mặt tại địa phương, không xác định được T đang ở đâu.

Ngày 31/3/2021, sau khi xác định chủ sở hữu xe môtô BKS 81F1-138.xx, Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô BKS 81F1-138.xx cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh Nguyễn Minh S và chị Nguyễn Ngô Yến P.

Đi với số vật chứng chưa xử lý, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A bảo quản để xử lý trong giai đoạn xét xử.

Tại Bản cáo trạng số: 29/CT-VKS ngày 30/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Nguyễn Tri Ph về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tri Ph phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tri Ph từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 08 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ “CAKE 49 SHOTS-T4049” có khối lượng 14,4 kg được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Nguyễn Trọng D và Nguyễn Huy H; 01 bao cước nhựa màu trắng, trên bao ghi chữ DrNaPah-V6320; 02 sim điện thoại số 085404719 và số 077257071. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Huawei, màu đỏ, số seri YGC6R19111010738. Buộc bị cáo Nguyễn Tri Ph phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.200.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 20/01/2021, Nguyễn Tri Ph mua 10 hộp pháo hoa nổ về cất giấu, nhằm bán lại thu lợi. Ngày 04/02/2021, tại khu vực cầu sông Ba thuộc Tổ M, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; Ph đã bán 01 hộp pháo hoa nổ cho anh Đinh Th, khối lượng 1,8kg, với số tiền 1.200.000đồng. Ngày 06/02/2021, tại khu vực đường Nguyễn Hữu Hảo thuộc Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, Ph đã dùng xe mô tô BKS 81F1- 138.xx chở 08 hộp pháo hoa nổ có tổng khối lượng 14,4kg để bán cho người khác, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tri Ph đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tri Ph đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, mua bán. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định, đang phải nuôi con nhỏ nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Đối với anh Đinh Th có hành vi tàng trữ 01 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 1,8kg, không đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện K xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[8] Đối với Phan Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành triệu tập, xác minh, nhưng T không có mặt tại địa phương, không xác định được T đi đâu, làm gì. Khi nào làm rõ được hành vi của T sẽ đề nghị xử lý sau.

[9] Anh Nguyễn Minh S và chị Nguyễn Ngô Yến P là chủ sở hữu xe mô tô BKS 81F1-138.xx, khi Ph lấy xe mô tô sử dụng vào việc đi mua bán pháo hoa nổ anh S, chị P không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý và trả lại xe mô tô cùng giấy tờ có liên quan cho anh S, chị P là phù hợp.

[10] Về vật chứng:

[10.1] Xét tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng gồm: 08 (tám) hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ “CAKE 49 SHOTS-T4049” có khối lượng 14,4 kg được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy các tông có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Nguyễn Trọng D và Nguyễn Huy H; 01 (một) bao cước nhựa màu trắng, trên bao ghi chữ DrNaPah-V6320; 02 sim điện thoại số 085404719x và số 077257071x.

[10.2] Xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei, màu đỏ, số seri YGC6R19111010738.

[11] Về biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền 1.200.000 đồng thu lợi bất chính. Buộc bị cáo Nguyễn Tri Ph phải nộp lại số tiền 1.200.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 299, khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tri Ph phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tri Ph 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào trại chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2021 đến ngày 09/02/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 08 hộp giấy, bên ngoài dán giấy màu in chữ “CAKE 49 SHOTS-T4049”, có khối lượng 14,4 kg được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Nguyễn Trọng D và Nguyễn Huy H; 01 bao cước nhựa màu trắng, trên bao ghi chữ DrNaPah- V6320; 02 sim điện thoại số 085404719x và số 077257071x.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Huawei, màu đỏ, số seri YGC6R19111010738.

(Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, đặc điểm, số lượng, chủng loại theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã A và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A).

4. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền 1.200.000đồng thu lợi bất chính. Buộc bị cáo Nguyễn Tri Ph phải nộp lại số tiền 1.200.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tri Ph phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (29/11/2021), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

339
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội buôn bán hàng cấm số 35/2021/HS-ST

Số hiệu:35/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị Xã An Khê - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/11/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về