Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 18/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 18/2021/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2021/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2021 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn Chị Trần Thị N, sinh năm 1989 (có mặt).

Cư trú tại: ấp L, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn : Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 1979 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Cư trú tại: ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 01 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Văn Đ tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào tháng 9 năm 2016, nhưng đến ngày 08/7/2019 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A theo quy định của pháp luật. Sau lễ cưới chị N và anh Đ chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị N và anh Đ sống ly thân từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Chị N yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh Đ có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Nhật H, sinh ngày 09/11/2016 và Nguyễn Trần Ng c P, sinh ngày 05/3/2019. Hiện nay cháu H đang sống chung với anh Đ còn cháu P đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P cho đến khi cháu P thành niên, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con; chị N thống nhất cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu H thành niên, chị N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con - Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh Đ không có tài sản chung và nợ chung, nên chị N không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Trần Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

* Tại biên bản lấy lời khai đương sự của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

- Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn Đ và chị Trần Thị N tự nguyện tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào tháng 9 năm 2016, nhưng đến ngày 08/7/2019 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A theo quy định của pháp luật. Sau lễ cưới anh Đ và chị N chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh Đ và chị N sống ly thân từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Anh Đ thống nhất ly hôn với chị N.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh Đ và chị N có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Nhật H, sinh ngày 09/11/2016 và Nguyễn Trần Ng c P, sinh ngày 05/3/2019. hiện nay cháu H đang sống chung với anh Đ còn cháu P đang sống chung với chị N. Anh Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu H thành niên, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con; anh Đ thống nhất cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu P cho đến khi cháu P thành niên, anh Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống anh Đ và chị N không có tài sản chung và nợ chung, nên anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Việc xác định quan h pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị N. Về hôn nhân: xử cho chị N được ly hôn với anh Đ; về con chung: giao cháu Nguyễn Trần Ng c P cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu P thành niên, giao cháu Nguyễn Trần Nhật H cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H thành niên, do chị N và anh Đ không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên chị N và anh Đ không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: chị N và anh Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 01 năm 2021 của chị Trần Thị N thì chị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Anh Nguyễn Thanh Đ là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

[2] Về quan h hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Thanh Đ tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị N và anh Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của chị N và anh Đ là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì chị N và anh Đ chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên chị N và anh Đ sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì chị N và anh Đ không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2020. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị N và anh Đ không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Chị N yêu cầu được ly hôn, anh Đ cũng thống nhất ly hôn với chị N.

Xét thấy: hiện nay hôn nhân của chị N và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu được ly hôn với anh Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh Đ cũng thống nhất ly hôn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị N được ly hôn với anh Đ.

[3] Về con chung: trong thời gian chung sống chị Trần Thị N và anh Nguyễn Thanh Đ có 02 người con chung tên Nguyễn Trần Nhật H, sinh ngày 09/11/2016 và Nguyễn Trần Ng c P, sinh ngày 05/3/2019. Từ khi chị N và anh Đ sống ly thân cho đến nay chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Chị N và anh Đ cùng thống nhất cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu P và cháu H thành niên; chị N và anh Đ không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Việc chị N và anh Đ đã thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, việc thỏa thuận này cũng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H và cháu P, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Phát cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu P thành niên; giao cháu H cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H thành niên. Do chị N và anh Đ không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên chị N và anh Đ không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị N và anh Đ, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: chị Trần Thị N và anh Nguyễn Thanh Đ không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: chị Trần Thị N và anh Nguyễn Thanh Đ không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N. Như đã nhận định ở phần trên, xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Trần Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị N được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án số 0007004 ngày 15 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Thanh Đ không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị N.

1. Về hôn nhân: xử cho chị Trần Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ.

2. Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Trần Ng c Pt, sinh ngày 05/3/2019 cho chị Trần Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu P thành niên.

- Giao cháu Nguyễn Trần Nhật H, sinh ngày 09/11/2016 cho anh Nguyễn Thanh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H thành niên.

- Chị N và anh Đ không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị N và anh Đ, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị N và anh Nguyễn Thanh Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị N được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007004 ngày 15 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Thanh Đ không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn chị Trần Thị N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ không có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hi u thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


27
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 18/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:18/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cù Lao Dung - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 27/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về