Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 55/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 55/2022/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2022 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/8/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2022, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị K, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Tổ dân phố Đồng C, thị trấn Yên S, huyện Yên S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn P, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Thôn Phúc T, xã Phúc T, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang.

Vắng mặt lần hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Đặng Thị K trình bày: Chị và anh Vũ Văn P đăng ký kết hôn vào ngày 14/4/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Phúc T, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang, đăng ký trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình anh P tại thôn Phúc T, xã Phúc T, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận bình thường. Đến năm 2018 vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, quan điểm làm ăn kinh tế. Chị và anh P sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị Kthấy tình cảm vợ chồng không còn, không còn yêu thương quý trọng nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn P.

Về con chung: chị và anh P có 02 con chung là cháu Vũ Đặng Huyền T, sinh ngày 18/3/2015 và cháu Vũ Văn P, sinh ngày 12/10/2016, hiện nay cháu P đang ở với chị K, còn cháu T đang ở với anh P. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P, còn anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Chị xác định không vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Xác minh tại địa phương được biết: Anh Vũ Văn P, sinh năm 1992 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Phúc T, xã Phúc T, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang, chị Kvà anh P kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2014 và cùng nhau chung sống tại thôn Phúc T, xã Phúc T, huyện Chiêm H. Vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng không rõ nguyên nhân mâu thuẫn, đến năm 2018 thì chị K bỏ về gia đình bố mẹ đẻ ở tại thị trấn Yên S, huyện Yên S, tỉnh Tuyên Quang sinh sống, vợ chồng chị K, anh P sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh P cũng đi làm ăn xa thi thoảng về thăm gia đình. Chị Kvà anh P có 02 con chung là cháu Vũ Đặng Huyền T, sinh ngày 18/3/2015 và cháu Vũ Văn P, sinh ngày 12/10/2016, hiện nay cháu P đang sống với chị K, còn cháu T đang sống với anh P.

Quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, mở phiên họp việc kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Văn P đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm, ý kiến gửi đến Tòa án (mặc dù đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng). Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị K vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, chị K giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết tại Tòa án và không thay đổi, bổ sung gì.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Toà án, của Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quyền và ngh a vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị K, cho chị Đặng Thị K được ly hôn với anh Vũ Văn P.

- Về con chung: Giao con chung là Vũ Đặng Huyền T, sinh ngày 18/3/2015 cho anh Vũ Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung là Vũ Văn P, sinh ngày 12/10/2016 cho chị Đặng Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị K và anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Đặng Thị K xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không đề nghị xem xét giải quyết.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị K phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng Chị Đặng Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Vũ Văn P có hộ khẩu thường trú tại thôn Phúc T, xã Phúc T, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Thị K vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Vũ Văn P đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị K và anh Vũ Văn P có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình; tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 14/4/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Phúc T, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, quan điểm làm ăn kinh tế. Chị Kvà anh P sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng chị Kvà anh P không có sự gắn kết, chia sẻ trong cuộc sống để xây dựng một gia đình hạnh phúc; cả hai đều đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ cả về tình cảm và kinh tế, nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, thực tế chị K đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thị trấn Yên S, huyện Yên S, tỉnh Tuyên Quang sinh sống từ năm 2018, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Như vậy, tình cảm vợ chồng chị Kvà anh P không còn, tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị K, xử cho chị K được ly hôn anh Phương.

- Về con chung: Chị Đặng Thị K và anh Vũ Văn P có 02 con chung là Vũ Đặng Huyền T, sinh ngày 18/3/2015 và Vũ Văn P, sinh ngày 12/10/2016. Chị Kđề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P, nhất trí giao cháu T cho anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Xét thấy hiện nay cháu P đang sống cùng chị K, cháu T đang sống cùng anh P, chị Kvà anh P đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, nên Hội đồng xét xử xét giao cháu P cho chị K trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu T cho anh P trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chị K và anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Đặng Thị K xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Đặng Thị K phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị K được ly hôn với anh Vũ Văn P.

2. Về con chung: Xử giao con chung là Vũ Văn P, sinh ngày 12/10/2016 cho chị Đặng Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Vũ Đặng Huyền T, sinh ngày 18/3/2015 cho anh Vũ Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị K và anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị K phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị K đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0005344 ngày 17/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chị K đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị K và anh Vũ Văn P vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

74
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 55/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:55/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về