Bản án về ly hôn số 76/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 76/2021/HNGĐ-ST NGÀY 03/06/2021 VỀ LY HÔN 

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 51/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Huyền Tr, sinh năm 1991; nơi cư trú: 258 Lý Thường K, phường Phan Bội Ch, quận Hồng B, thành phố Hải Phòng, vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Bùi Khánh H, sinh năm 1986; nơi cư trú: W 76/7, B, Cộng H Séc; vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thị Huyền Tr trình bày:

Chị và anh Bùi Khánh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân quận Hồng B, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau ở Việt Nam được khoảng 01 tháng thì anh H ra nước ngoài sống. Anh H có hứa sẽ làm thủ tục bảo lãnh chị cùng sang Cộng H Séc để vợ chồng được đoàn tụ. Nhưng thời gian vợ chồng xa nhau đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, tính cách không hợp dẫn đến thường xảy ra cãi vã. Thời gian đầu anh H có gọi điện về nói chuyện với chị nhưng dần thấy nói chuyện không hợp nên không gọi điện về cho chị nữa. Chị được biết anh H ở bên Cộng hòa Séc đã có người phụ nữ khác. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa chị và anh H đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong văn bản trình bày ý kiến của bị đơn gửi cho Tòa án, anh Bùi Khánh H trình bày:

Anh thống nhất về quá trình kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị Tr. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn do vợ chồng xa nhau, không tin tưởng nhau dẫn đến xảy ra mâu thuẫn không thể giải quyết nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Tr. Về con chung: Anh và chị Tr không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh và chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đơn của anh Bùi Khánh H cùng với giấy xác nhận tình trạng cư trú tại Cộng hòa Séc được xác nhận bởi Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Séc.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Huyền Tr và bị đơn anh Bùi Khánh H vắng mặt nhưng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sư; nguyên đơn và bị đơn đa thực hiện đung các quyền va nghia vu . Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Tr và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng vào ngày 21/01/2019 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tr. Về con chung: Anh chị không có con chung. Về tài sản chung: Anh chị không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Chị Phạm Thị Huyền Tr có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Bùi Khánh H. Nguyên đơn, chị Tr hiện đang sinh sống tại Hải Phòng, bị đơn anh H hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Séc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Tr và bị đơn anh H đều vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tr và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Anh chị chung sống cùng nhau tại Việt Nam được một thời gian ngắn thì anh H ra nước ngoài sinh sống (Cộng hòa Séc). Anh H có ý định làm thủ tục bảo lãnh cho chị Tr sang Cộng H Séc để vợ chồng được đoàn tụ. Tuy nhiên, vợ chồng xa cách dẫn đến xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng vào nhau nên thường xảy ra cãi vã. Đến thời gian gần đây, anh chị đã không còn liên lạc với nhau, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tr và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ , cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 châp nhân yêu cầu khởi kiện của chị Tr.

[4] Về con chung: Chị Tr và anh H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Tr và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Huyền Tr là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Tr và anh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Huyền Tr 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huyền Tr được ly hôn anh Bùi Khánh H.

2. Về con chung: Chị Tr và anh H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Tr và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Huyền Tr phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ăn phí dân sự sơ thẩm.. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn ) đồng theo Biên lai số 0018916 ngày 27 tháng 4 năm 2021 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Tr đa nôp đu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Phạm Thị Huyền Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Anh Bùi Khánh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


57
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 76/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:76/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 03/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về