Bản án về ly hôn số 65/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

 BẢN ÁN 65/2021/HNGĐ-ST NGÀY 01/10/2021 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ C VÀ ANH B

 Ngày 01 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 290/2021/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXX-ST ngày 16 tháng 7 năm 2021; các thông báo dời ngày xét xử, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Kim C, sinh năm 1984;

HKTT: ấp |H, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Hiện đang tạm trú: ấp P, xã N, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1974;

Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị C và anh B vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 08/7/2021, nguyên đơn chị Lê Kim C trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn B kết hôn vào năm 2016, hôn nhân do anh chị tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 30/9/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình cả hai không hợp nên từ tháng 02/2021 chị đã dẫn 02 con về nhà cha mẹ ruột của chị sinh sống đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh B không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Kim H, sinh ngày 05/01/2016 và Phạm Kim T, sinh ngày 12/7/2019 hiện nay đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh B không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do tình hình dịch bệnh Covid-19 và do địa phương chị đang cư trú ở xa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt chị.

Bị đơn anh Phạm Văn B trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, hồ sơ khởi kiện photo theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh B đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh B. Đến ngày 28 tháng 9 năm 2021, anh B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Trong suốt quá trình tố tụng, anh B vắng mặt không lý do; điều đó cho thấy anh B không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh B đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung, có 02 con chung tên Phạm Kim H, sinh ngày 05/01/2016 và Phạm Kim T, sinh ngày 12/7/2019 hiện nay đang sống chung với chị C và chị cũng có yêu cầu được nuôi 02 con, anh B không có yêu cầu gì về con nên đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị C; chị C không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Tòa án ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung chị C khai không có và không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Lê Kim C và anh Phạm Văn B là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh B hiện đang cư trú tại xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn anh B vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị C và anh B cùng có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh B.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Kim C và anh Phạm Văn B kết hôn vào năm 2016, hôn nhân do anh chị tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 30/9/2016 (số 29/2016) nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị C xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là tính tình của hai người không hợp nhau và anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2021 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh B không tham gia phiên hòa giải, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình; điều đó cho thấy, anh B không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh B đã không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C.

[3] Về con chung: Theo Giấy khai sinh số 61/2016 ngày 21 tháng 11 năm 2016 và Giấy khai sinh số 35 ngày 22 tháng 7 năm 2019 do Ủy ban nhân dân xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre cấp thì chị C và anh B có 02 người con chung tên Phạm Kim H, sinh ngày 05/01/2016 và Phạm Kim T, sinh ngày 12/7/2019. Chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung sau khi ly hôn, anh B không có yêu cầu gì về con. Xét thấy, 02 con chung hiện nay đang sống cùng chị C tại nhà mẹ ruột chị Cở ấp Nhơn Phú, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ. Do đó, để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cho chị C được trực tiếp nuôi 02 con chung là phù hợp theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị C không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, anh B vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh B về phần tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không xem xét.

[5] Về án phí: Chị C phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

[6] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 147, 207, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Kim C ly hôn với anh Phạm Văn B.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Phạm Kim H, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2016 và Phạm Kim T, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2019 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc chị C không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005097 ngày 10/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Đương sự đã nộp đủ án phí.

Chị C, anh B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ


49
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 65/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:65/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/10/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về