Bản án về ly hôn, con chung khi ly hôn số 04/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 04/2022/HNGĐ-ST NGÀY 17/02/2022 VỀ LY HÔN, CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 17 tháng 02 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2021 về việc: “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Duy M – Sinh năm 1991 ĐKNKTT: Xóm T, xã V, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã T, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

2. Bị đơn: Anh Hà Văn X – Sinh năm 1988 Địa chỉ: Xóm T, xã V, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ (Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh X vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Phùng Thị Duy M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Duy M và anh Hà Văn X có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Minh, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ vào năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thường nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh X không tin tưởng chị M nên hay ghen tuông, dẫn đến có lời nói xúc phạm chị M, hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Ngày 24/8/2021 chị M về nhà bố mẹ đẻ ở xã Tân Minh sinh sống. Vợ chồng ly thân với nhau từ đó đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị M làm đề nghị được ly hôn anh X.

- Về con chung: Chị Phùng Thị Duy M và anh Hà Văn X có 02 con chung là Hà Thái T – Sinh ngày 16/4/2010 và Hà Bảo N - Sinh ngày 17/02/2018. Hiện nay cháu T đang sống cùng anh X, cháu Nam sống cùng chị M. Trong trường hợp ly hôn chị M nuôi cháu N, anh X nuôi cháu Toàn, chị M tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Phùng Thị Duy M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai ngày 14/10/2021 và các ý kiến trong quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn là anh Hà Văn X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2009 anh Hà Văn X và chị Phùng Thị Duy M có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Minh, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thường nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là anh X không tin tưởng chị M nên hay ghen tuông, dẫn đến có lời nói xúc phạm chị M. Ngày 24/8/2021 chị M về nhà bố mẹ đẻ ở xã Tân Minh sinh sống. Vợ chồng ly thân với nhau từ đó. Quá trình xảy ra mâu thuẫn hai bên gia đình cũng nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả, anh đã đến nhà ngoại xin lỗi chị M nhưng chi Mai không về sống với anh nữa. Nay chị M xin ly hôn thì anh không nhất trí, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái.

- VÒ con chung: Chị Phùng Thị Duy M và anh Hà Văn X có 02 con chung là Hà Thái Toàn – Sinh ngày 16/4/2010 và Hà Bảo Nam - Sinh ngày 17/02/2018. Hiện nay cháu Toàn đang sống cùng anh X, cháu Nam sống cùng chị M. Trong trường hợp ly hôn anh X nuôi cháu Toàn, chị M nuôi cháu Nam, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với nhau.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Anh X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh X chưa đế mức trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của chị M để vợ chòng chị M, anh X đoàn tụ.

Về con chung, tài sản chung, công sức không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị M phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh X, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Cả chị M và anh X đều có nơi ĐKNKTT hiện nay tại huyện Thanh Sơn vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Duy M và anh Hà Văn X có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Minh, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ vào năm 2009. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về tình cảm vợ chồng: Cả chị M và anh X đều thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thường nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh X không tin tưởng chị M nên hay ghen tuông, dẫn đến có lời nói xúc phạm chị M, hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Ngày 24/8/2021 chị M về nhà bố mẹ đẻ ở xã Tân Minh sinh sống. Vợ chồng ly thân với nhau từ đó đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị M làm đơn xin ly hôn anh X. Anh X cũng xác nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chung sống không hạnh phúc do anh X không tin tưởng chị M, tuy nhiên anh X cũng rất hối hận, mong muốn chị M tha thứ để vợ chồng về đoàn tụ, nuôi dạy con cái. Chị M vẫn giữ nguyên quan điểm là kiên quyết ly hôn anh X.

Lời trình bày của các đương sự hoàn toàn phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. HĐXX thấy rằng có cơ sở khẳng định mâu thuẫn của chị M và anh X chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thiếu tin tưởng, ghen tuông dẫn đến có những lời nói, hành động xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ sau khi kết hôn được một thời gian, đã có sự khuyên bảo của hai bên gia đình nhưng không có kết quả, nay mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không có khả năng khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử cho chị M được ly hôn với anh X là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đã có sự chuẩn bị về tâm lý và thống nhất về việc nuôi con sau khi ly hôn. HĐXX thấy rằng điều kiện nuôi con của chị M và anh X hiện nay là ngang nhau, cháu Toàn đã có khả năng tự lực được trong sinh hoạt, có nguyện vọng được ở với bố. Cháu Nam còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự trình bày về phần con chung, người nuôi con chung trong trường hợp ly hôn là thống nhất với nhau, như vậy giao con chung cho người trực tiếp nuôi dưỡng theo lời trình bày của các đương sự là phù hợp. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung do hai bên đều tự nguyện không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị M và anh X đều khẳng định vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.

[5] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện thấy rằng: Như đã nhận định ở trên, chỉ sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng chị M, anh X đã phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã được hai gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng không có kết quả, thời điểm bắt đầu sống ly thân là đỉnh điểm của sự mâu thuẫn, như vậy mẫu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng. Anh X đề nghị vợ chồng đoàn tụ nhưng lại không chấp hành khi Tòa án triệu tập đến giải quyết vụ án, như vậy thấy rằng việc anh X đề nghị đoàn tụ là không thực tâm. Hội đồng xét xử quyết định xử cho chị M ly hôn anh X là phù hợp, đề nghị của Kiểm sát viên không được chấp nhận.

[6] Về án phí: Chị M phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Duy M. Xử cho chị Phùng Thị Duy M được ly hôn với anh Hà Văn X.

2. Về con chung: Giao cho chị Chị Phùng Thị Duy M được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Bảo Nam - Sinh ngày 17/02/2018, giao cho anh Hà Văn X được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Thái Toàn - Sinh ngày 16/4/2010 đến khi các con chung thành niên. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung do hai bên đều tự nguyện không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phùng Thị Duy M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/0006603 ngày 04/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Nay chuyển thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự." 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

72
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, con chung khi ly hôn số 04/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:04/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Sơn - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/02/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về