Bản án về hôn nhân và gia đình số 24/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 24/2021/HNGĐ-ST NGÀY 25/06/2021 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2021/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình

Bị đơn: Anh Đặng Quốc T, sinh năm 1987 Địa chỉ thường trú: Khu 4, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Đội 5, Phân trại số 1, Trại giam T - Cục C10, Bộ Công An (Địa chỉ: Xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ).

Chị T và anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

 NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, chị Tình trình bày về nội dung và yêu cầu khởi kiện của mình như sau:

Chị và anh Đặng Quốc T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 20/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chỉ chung sống thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh T ham chơi bời không chịu làm ăn, không quan tâm đến gia đình và còn dừng bạo lực với chị vì vậy chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2015. Cho đến năm 2017, anh T đã phạm tội về ma túy, bị bắt và kết án tù hiện nay đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Tân Lập. Chị xác định hôn nhân giữu chị với anh T không có hạnh phúc và tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Quốc T.

- Về con chung: Chị T xác nhận chị và anh Đặng Quốc T có 01 con chung là Đặng Thanh T; sinh ngày 16/11/2013, từ trước cho đến nay con chung vẫn do chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và ở với chị tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh H. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp và các vấn đề khác chị T xác nhận chị và và anh Đặng Quốc T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Đặng Quốc T hiện dang chấp hành án phạt tù, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T có lời khai thể hiện quan điểm như sau:

- Anh Tuấn trình bày về việc kết hôn, thời gian, thủ tục kết hôn và thời gian chung sống đúng như chị Nguyễn Thị T đã trình bày. Quá trình vợ chồng chung sống do bất đồng quan điểm, không họp nhau nên dẫn đến mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015. Năm 2017, anh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị kết án 07 năm 06 tháng tù, hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 1, Trại giam Tân Lập. Nay chị T có đơn ly hôn, anh cũng yêu cầu Tòa án cho được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

- Về con chung: Anh T xác nhận anh và chị Nguyễn Thị T có 01 con chung là Đặng Thanh T; sinh ngày 16/11/2013. Hiện con chung đang ở với mẹ là chị Nguyễn Thị T. Do anh đang phải chấp hành án phạt tù nên sau khi ly hôn, anh đồng ý để chị T được trực tiếp nuôi con, anh không phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và các vấn đề khác anh T xác nhận anh và chị Tình không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm ứa tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Trong quá trình giải quyết vụ án, do các đương sự đều từ chối hòa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án quyết định xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Quốc T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn do vậy là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm lối sống nên đã ly thân từ năm 2015, sau đó anh T phạm tội bị kết tù và hiện vẫn đang phải chấp hành án tại Trại giam trong nhiều năm do vậy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm và mối quan hệ vợ chồng. Nay chị T, anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và đều yêu cầu được ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về nuôi con chung sau ly hôn: Chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Quốc T đều xác nhận có 01 con chung như đã trình bày ở trên. Sau khi ly hôn chị Tình yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh thực tế hiện nay của mỗi bên thì con chung vẫn đang do chị T chăm sóc nuôi dưỡng từ trước đến nay, anh T đang phải chấp hành án phạt tù nên không đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con, bản thân anh T cũng nhận thức được hoàn cảnh hiện nay của mình nên đồng ý để cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con sau ly hôn. Do vậy, việc giao con chung cho chị Tình chăm sóc nuôi dưỡng sau khi ly hôn sẽ đảm bảo được quyền lợi và sự phát triển của con chung, đáp ứng được nguyện vọng của con và phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu nuôi con của chị Tình được chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Do chị T tự nguyện không yêu cầu và anh T hiện cũng không có khả năng để cấp dưỡng vì vậy trong vụ án này không buộc anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

[4]. Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Quốc T đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba đã phát biểu quan điểm, xác định trong quá trình giải quyết xét xử vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của các đương sự và yêu cầu được nuôi con chung của chị Nguyễn Thị T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Cho chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Quốc T được ly hôn.

- Về nuôi con chung sau ly hôn: Giao cho chị Nguyễn Thị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Đặng Thanh T; sinh ngày 16/11/2013 (hiện nay con đang ở với chị Tình tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình). Anh Đặng Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác chị Nguyễn Thị T và anh Đặng Quốc T không có nên không giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo “Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số AA/2020/0001689 ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về hôn nhân và gia đình số 24/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:24/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Ba - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về