Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình 144/2021/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 144/2021/HNGĐ-ST NGÀY 09/08/2021 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 09/8/2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 93/2021/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Sín Hồng N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

- Bị đơn: Nguyễn Thị Thái H, sinh năm 1993;

Nơi ĐKNKTT: Tổ T, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Chung cư chiến sỹ Bộ Công an, phường C, quận Bắc L, thành phố Hà Nội.

(Anh N và chị H đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Sín Hồng N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thái H sau thời gian tìm hiểu đã đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 01/11/2016 tại UBND thị trấn Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Cuộc sống chung vợ chồng ban đầu hạnh phúc, sau đó đến tháng 02 năm 2020 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi mâu thuẫn xảy ra chị H đã bỏ về nhà bố mẹ để sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, trầm trọng không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thái H.

- Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Thái H có 01 con chung là cháu Sín Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/6/2019, hiện cháu đang ở cùng chị H. Sau khi ly hôn anh nhất trí để chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H số tiền 1.500.000đ/tháng cho cháu H1, đến khi cháu H1 trưởng thành (đủ 18 tuổi).

- Về tài sản chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về vay nợ chung: Anh N xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thái H trình bày:

- Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Sín Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/6/2019, hiện đang ở cùng chị, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành và yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị với số tiền 1.500.000đ/tháng.

- Về tài sản chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Anh Sín Hồng N và chị Nguyễn Thị Thái H kết hôn với vào ngày 01/11/2016 tại UBND thị trấn Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hiện anh N và chị H đã sống ly thân, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh N và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các quy định của Luật hôn nhân và gia đình đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N và xử cho anh Sín Hồng N được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thái H. Về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Sín Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/6/2019 cho chị Nguyễn Thị Thái H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng con chung.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh Sín Hồng N phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Sín Hồng N và chị Nguyễn Thị Thái H có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên giải quyết vụ việc. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh N và chị H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Sín Hồng N và chị Nguyễn Thị Thái H kết hôn với nhau vào ngày 01/11/2016 tại UBND thị trấn Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Như vậy hôn nhân giữa anh Sín Hồng N và chị Nguyễn Thị Thái H là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án anh N xác định cuộc sống chung vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng không thể hòa hợp được, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 02 năm 2020 đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau.

Hội đồng xét xử thấy rằng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa anh N và chị H. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án tại đơn xin lựa chọn thẩm quyền có chữ ký của chị H có nội dung khi mâu thuẫn xảy ra đến tháng 02 năm 2020 chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh N và chị H sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng đã bàn bạc, thỏa thuận thuận tình ly hôn và nhất trí lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên giải quyết; tại đơn xin xét xử vắng mặt chị H xác định đề nghị Tòa án xem xét cho chị H được nuôi con chung, thỏa thuận giữa hai vợ chồng anh N đồng ý để chị H nuôi con chung, vợ chồng không tranh chấp về quyền nuôi con. Như vậy có căn cứ xác định chị H cũng nhất trí với việc anh N xin ly hôn với chị H. Vì vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh N và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tồn tại được một gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc và tiến bộ. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N với chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh Sín Hồng N và chị Nguyễn Thị Thái H có 01 con chung là cháu Sín Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/6/2019, hiện đang ở cùng chị H. Quá trình giải quyết vụ án chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành và yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị với số tiền 1.500.000đồng/tháng (một triệu năm trăm nghìn đồng/tháng). Anh N nhất trí để chị H nuôi dưỡng con chung và nhất trí cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.500.000đồng/tháng (một triệu năm trăm nghìn đồng/tháng). Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu Hiền cần giao cháu Sín Nguyễn Gia H1 cho chị Nguyễn Thị Thái H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung: Anh N và chị H cùng xác định không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vay nợ chung: Anh N và chị H cùng xác định không có không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Anh Sín Hồng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 28; 147; 207; 227; 228; 235; 238; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83; 84, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Sín Hồng N được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thái H.

- Về con chung: Giao cháu Sín Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/6/2019 cho chị Nguyễn Thị Thái H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Sín Hồng N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị Thái H với số tiền 1.500.000đồng/1 tháng (một triệu năm trăm nghìn đồng/tháng) đến khi cháu Hiền trưởng thành (đủ 18 tuổi). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 10/2021 trở đi; phương thức cấp dưỡng mỗi tháng một lần, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên. Anh Sín Hồng N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

Khoản tiền phải cấp dưỡng kể từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật và chị Nguyễn Thị Thái H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Sín Hồng N chậm nộp thì phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm nộp tương ứng với thời gian chậm nộp. Lãi suất phát sinh thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về án phí: Anh Sín Hồng N phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002467, ngày 27/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, anh N phải nộp tiếp số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Chị Nguyễn Thị Thái H không phải chịu án phí.

Anh N và chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án./.

Trưng hợp được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy dịnh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

202
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình 144/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:144/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Yên - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/08/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về