Bản án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng số 70/2021/DSST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 70/2021/DS-ST NGÀY 24/02/2021 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 24 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 579/2020/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2020 về việc “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyễn đơn: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1981; (có mặt) Địa chỉ: xã T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Kh, sinh năm 1978; (có mặt) Thường trú: huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Tạm trú: xã T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Th trình bày: Ngày 13/01/2020, Bà bị bà Trần Thị Kh dùng loa phát thanh và chìa khóa xe máy đánh vào vùng đầu, bà bị bất tỉnh và chảy rất nhiều máu nên được đưa đi bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi để cấp cứu, kết quả chuẩn đoán bà bị đa chấn thương đầu và được cho về vào đêm cùng ngày. Chi phí cấp cứu là 133.771 đồng và đơn thuốc là 345.000 đồng, tổng tiền cấp cứu và đơn thuốc là 478.771 đồng. Sau khi ra viện bà vẫm cảm thấy đau nhức vùng đầu và chóng mặt, buồn nôn nên bà được đưa vào bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi và phải nhập viện từ ngày 17/01/2020 đến ngày 22/01/2020 (Theo giấy ra viện ngày 22/01/2020 của bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi). Chi phí điều trị là 282.806 đồng. Vì bà bị mất nhiều máu nên trong quá trình điều trị bà được bác sĩ của bệnh viện khuyên dùng sữa DR.Zurrik Sure để bổ sung dưỡng chất cho cơ thể nên ngày 17/01/2020, bà mua hai lon sửa trên theo lời khuyên của bác sĩ và ngày 19/01/2020 bà mua thêm 05 lon sữa này, số tiền mỗi lon là 350.000 đồng nên 07 lon x 350.000 đồng/1 lon = 2.450.000 đồng. Ngày 05/02/2020, Bà đến bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi để khám răng, hàm mặt chi phí tiền khám là 111.300 đồng. Ngày 10/02/2020, Bà đến bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi để tái khám và chụp XQ xương bàn ngón tay là 70.550 đồng. Ngày 25/02/2020, Bà đến Bệnh viện 30/4 để khám và CT Scan lại vùng đầu chi phí là 1.510.000 đồng. Ngày 27/02/2020, Bà đến bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi khám ngoại, chi phí khám và mua thuốc là 52.500 đồng. Ngày 08/4/2020, Bà đến bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi khám ngoại, chi phí khám và mua thuốc là 47.120 đồng.

Từ ngày 13/01/2020 đến ngày 20/02/2020, vùng mặt và đầu của bà vẫn bị đau và sưng nên bà không thể cùng chồng bà đi bán. Thu nhập mỗi ngày đi bán ở chợ của bà là 300.000 đồng/ngày, do đó thu nhập của bà bị mất trong khoản thời gian này là 25 ngày x 300.000 đồng/ngày = 10.500.000 đồng.

Sự việc này đã được báo với cơ quan Công an huyện Củ Chi nên ngày 05/02/2020, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi có mời bà và bà Khoản đến làm việc nhưng bà và bà Khoản không thống nhất được với nhau về số tiền bồi thường.

Sau đó, phía cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi đã đưa bà đi giám định thương tích và theo thông báo kết quả giám định số 522 ngày 30/3/2020, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 6%. Ngày 20/4/2020, Công an huyện Củ Chi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 75 đối với hành vi cố ý gây thương tích cùa bà Trần Thị Khoản gây ra cho bà. Ngày 12/6/2020, bà nhận được thông báo về việc “ Không khởi tố vụ án hình sự” đối với bà Trần Thị Khoản.

Do đó, Bà làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xem xét giải quyết buộc bà Trần Thị Khoản bồi thường cho bà các khoản tiền sau:

Tiền chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là 5.003.047 đồng, thu nhập thực tế bị mất là 10.500.000 đồng, bồi thường tiền bù đắp tổ thất về tinh thần mà bà gánh chịu là 07 tháng lương cơ sở, cụ thể là 7 tháng x 1.390.000 đồng = 9.730.000 đồng. Tổng cộng bà Khoản phải bồi thường cho bà số liền là 25.233.047 đồng, thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Thông báo kết quả giám định, thông báo về việc không khởi tố vụ án, kết quả giải quyết nguồn tin tội phạm, biên bản làm việc, phiếu khám bệnh, kết quả CT, tờ điều trị, đơn thuốc, hóa đơn bán lẻ, giấy ra viện, bản kê chi phí điều trị nội trú, hóa đơn bán hàng, đơn khởi kiện; bản sao CMND + HK.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bị đơn bà Trần Thị Khoản trình bày:

Khoảng 17 giờ 30, Bà đang đứng thì bà Thủy chửi bà rồi nhào vô giật cài loa của bà, rồi bà giật cái loa lại đánh về phía chị Thủy, rồi chị Thủy lấy nón bảo hiểm đánh bà lia lịa nhưng được mọi người can ngăn, khoảng 05 phút sau chị Thủy nảy ra ý định quay lại để đổ thùng trứng của bà nhưng bà sợ vở hết, bà liền chạy lại giữ thùng trứng thì bà Thủy liền cầm ngay thùng trứng của bà chỉ đập bà rồi tiếp tục cầm nón bảo hiểm đánh bà lia lịa nhưng trong khi đó bà không có cái gì trong tay chỉ có cái chìa khóa thì bà cũng có đánh đở đòn thì quơ không may phải trúng nhưng chị Thủy vẫn tiếp tục lùa bà mấy vòng nhưng không được thì bà Thủy quay lại gần xe bắp rồi ra bộ ngất xỉu, vừa lúc đó công nhân ra hô kêu là đưa đi viện nhưng bà chạy về thương chẳng bao nhiêu, thì lúc đó Công an tới bắt bà nhưng độ 10 giờ đêm bà nói chống bà đi vô viện hỏi thăm nhưng chồng điện thì cậu bà Thủy nói là bà Thủy đã về nhà rồi nhưng có anh Công an nói là em nói anh chị chạy hỏi thăm người ta đi, sáng hôm sau chồng bà đi làm về có mua đồ xuống để hỏi thăm, khi về chồng bà có nói nó bị sưng mặt, còn mày thì bị sưng hết cái đầu, nó sưng mặt thì không chết còn mày sưng đầu kẻo mà chết bỏ con cho nên chồng bà giục bà đi viện, vì điều kiện không có tiền bà chạy ra tiệm thuốc mua 10 ngày thuốc uống tan máu bầm. Bà uống xong ngày hôm sau vợ chồng bà có xuống chỗ bà Thủy nấu bắp thì cả hai vợ chồng bà Thủy đang ở đó, sau đó chồng bà có đưa rá nói để hòa giải để đôi bên bắt tay làm hòa nhưng bà Thủy thì đưa ra lời hăm dọa vợ chồng bà, bà Thủy là dân đâm thuê chém mướn có chồng bà Thủy là người khống chế Công an còn hai anh trai bà Thủy là vào đây làm nghề đòi nợ mướn. Còn về việc bà Thủy đưa ra mức bồi thường, bà nhờ Tòa xem xét, còn mấy ngày là tết bà Thủy cũng có nấu bắp, còn ra ngoài tết mùng 7 tết đến nay, bà thấy bà Thủy bán hoài, nếu Tòa không tin bà sẽ mượn người bán cùng bà Thủy làm chứng.

Bà không đồng ý theo yêu cầu của bà Thủy vì thực tế bà Thủy không có nghĩ ngày nào, bà chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc nhưng bà chỉ trả từ từ.

Các tài liệu, chứng cứ mà bị đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: bản sao CMND + HK.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn không thay đổi lời trình bày, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bà Trần Thị Khoản.

Bị đơn cũng giữ nguyên nội dung như đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thủy yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi buộc bà Trần Thị Khoản bồi thường cho bà tổng số tiền là 25.233.047 đồng, thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật; Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Bị đơn bà Trần Thị Khoản đang cư trú tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn, bị đơn đã có lời khai thể hiện rõ ý chí của mình, không bên nào bổ sung chứng cứ và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm bất cứ chứng cứ gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà các bên đã cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

[2] Về nội dung:

Bà Thủy yêu cầu Tòa án buộc bà Khoản bồi thường cho bà chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là 5.003.047 đồng, thu nhập thực tế bị mất là 10.500.000 đồng, bồi thường tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà bà gánh chịu là 07 tháng lương cơ sở, cụ thể là 7 tháng x 1.390.000 đồng = 9.730.000 đồng. Tổng cộng bà Khoản phải bồi thường cho bà số liền là 25.233.047 đồng (Hai mươi lăm triệu hai trăm ba mươi ba nghìn không trăm bốn mươi bảy đồng), thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Sau khi xem xét tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến nội dung vụ án tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Do mâu thuẩn trong việc rao bán hàng, bà Khoản để loa lớn và lấn qua chỗ bà Thủy bán hàng nên hai bên phát sinh mâu thuẩn dẫn đến bà Thủy và bà Khoản đánh nhau; Trong lúc xảy ra xô sát qua lại, bà Thủy đánh bà Khoản bằng nón bảo hiểm và bằng loa; Bà Khoản đánh lại bà Thủy bằng chìa khóa xe máy, kết luận giám định bà Thủy bị thương tích 06%, bà Khoản bị thương tích 00%; Bà Thủy phải nhập viện điều trị một thời gian; Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi không khởi tố hình sự đối với hành vi của bà Khoản do không đủ cơ sở cấu thành tội phạm; Bà Thủy nằm viện từ ngày 17 đến ngày 22/01/2020 là 06 ngày, những ngày bà Thủy phải đi khám lại và điều trị bệnh gồm: ngày 13/01/2020, ngày 05/02/2020, ngày 10/02/2020, ngày 25/02/2020, ngày 27/02/2020, ngày 08/4/2020 (tổng cộng 06 ngày); Mỗi ngày bà Thủy thu nhập từ việc buôn bán khoản 300.000 đồng/1 ngày và bà Khoản cũng thống nhất về thu nhập này của bà Thủy.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Bà Thủy và bà Khoản đánh nhau là thực tế, mặc dù kết quả giám định bà Khoản bị thương tích 00% nhưng thực tế bà Thủy có đánh bà Khoản bằng nón bảo hiểm và bằng loa phát thanh, yếu tố lỗi trong vụ kiện này là lỗi hỗn hợp, bà Thủy và bà Khoản đều có lỗi với tỷ lệ là 3/7, bà Thủy 3, bà Khoản 7, do đó Hội đồng xét xử xét thấy bà Khoản phải bồi thường cho bà Thủy 70% tổng chi phí thiệt hại thực tế mà bà Thủy phải chịu, 30% còn lại bà Thủy tự chịu là phù hợp.

Chi phí thiệt hại thực tế bà Thủy phải chịu là:

+ Tiền chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là 5.003.047 đồng (Năm triệu không trăm lẻ ba nghìn không trăm bốn mươi bảy đồng).

+ Bà Thủy phải nghĩ tổng cộng 12 ngày để nằm viện, khám bệnh, mỗi ngày làm việc của bà Thủy là 300.000 đồng/1 ngày, tổng cộng thu nhập bà Thủy bị mất là 12 ngày x 300.000 đồng/1 ngày = 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng). 70% x (5.003.047 đồng + 3.600.000 đồng) = 6.022.133 đồng (Sáu triệu không trăm hai mươi hai nghìn một trăm ba mươi ba đồng).

Hoàn cảnh gia đình bà Thủy khó khăn và những chi phí này ảnh hưỡng trực tiếp đến sinh hoạt hằng ngày của bà Thủy, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà Khoản phải thanh toán cho bà Thủy những chi phí này 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật là phù hợp.

Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Thủy về việc yêu cầu bà Khoản bồi thường cho bà thu nhập thực tế bị mất là 10.500.000 đồng, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà bà gánh chịu là 07 tháng lương cơ sở, cụ thể là 7 tháng x 1.390.000 đồng = 9.730.000 đồng là không có cơ sở nên không chấp nhận.

Chi phí đi lại và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bà Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong quá trình xét xử, bà Kh không có yêu cầu gì đối với bà Th do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn thuộc trường hợp miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều: 584, 585, 586, 588, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phạm Thị Th.

1. Buộc bà Trần Thị Kh phải bồi thường cho bà Phạm Thị Th số tiền là 6.022.133 đồng (Sáu triệu không trăm hai mươi hai nghìn một trăm ba mươi ba đồng); Thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Kh phải chịu 301.107 đồng (Ba trăm lẻ một nghìn một trăm lẻ bảy đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày tuyên án.


213
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng số 70/2021/DSST

Số hiệu:70/2021/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 24/02/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về