Bản án 99/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 99/2019/HS-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 29 tháng 11 năm 2019,tại Tr sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95 /2019/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169 /2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Trần Xuân Chh, sinh ngày 02/10/1982, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm TM, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKNKTT: xóm TM, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 1/12.

Con ông: Trần Xuân T ( đã chết); Con bà Hồ Thị C (đã chết)

Anh chị em ruột: có 7 người, bị cáo là con thứ ba.

Vợ: Lã Thị Th, sinh năm 1978, có 02 con, sinh năm 2004 và năm 2008 Tiền án: Ngày 24/4/2014 bị TAND thị xã Hoàng Mai xử phạt 10.000.000đồng về tội Đánh bạc. Mới thi hành xong ngày 21/8/2019.

Ngày 28/ 10/ 2019 bị TAND thị xã Hoàng Mai xử phạt 7 tháng tù về tội đánh bạc (Đánh dưới 5.000.000đ, chưa được xoá án tích- yếu tố định tội). Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2019, hiện đang tạm giam.Có mặt.

2. Nguyễn Văn Tn, sinh ngày 25/ 3/1979, tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 4/12.

Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952; Con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952 Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; có 02 con, sinh năm 2009 và năm 2010 Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 2. Tiền án, tiền sự: Không Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

3. Nguyễn Thị Thh, sinh ngày 08/6/1988, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm Đồng Thh, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học phổ thông: 5/12. Con ông : Nguyễn Văn B; Con bà Lê Thị Tr.

Chồng: Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1986, có 03 con: sinh năm 2006, 2011, 2012 Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con đầu. Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 31/7/2019 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt hành Ch 2.000.000đồng về hành vi đánh bạc.

Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

4. Nguyễn Thị Vh, sinh ngày 20/ 10/ 1982, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học phổ thông: 4/12. Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Nguyễn Văn T; Con bà Nguyễn Thị T.

Chồng: Phan Sỹ Th, sinh năm 1978, có 03 con: sinh năm 1999, 2005, 2012 Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con đầu. Tiền án: Không Tiền sự: Ngày 31/7/2019 bị Công an thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt hành Ch 2.000.000đồng về hành vi đánh bạc.

Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

5. Nguyễn Văn Ch, sinh ngày 08/11/1985, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 9/12. Con ông Nguyễn Hoài M; Con bà Nguyễn Thị T.

Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ 4.

Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: Ngày 17/9/2015 bị Công an thị xã Hoàng Mai xử phạt vi phạm hành Ch về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

6. Mai Văn Th, sinh ngày 02/ 7/ 1979, tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 2/12.

Con ông: Mai Văn Th, sinh năm 1951; Con bà: Trần Thị G, sinh năm 1950 Vợ: Nguyễn Thị N, có 05 con: con đầu sinh năm 2002, con út sinh năm 2012 Anh chị em ruột có 5 người, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019 Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

7. Cao Văn L, sinh ngày 02/ 6 /1993, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An, Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: không biết chữ. Con ông: (không xác định); Con bà: Cao Thị T, sinh năm 1963 Anh chị em ruột: có 2 người, bị cáo là con thứ 2.

Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1995, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

8. Nguyễn Văn ThT, sinh ngày 25/ 01/1981, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 3/12.

Con ông: Nguyễn Văn N (đã chết); Con bà: Trần Thị D ( đã chết) Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 3.

Vợ: Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1983, có 04 con: con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất 2018; Tiền án, tiền sự: Không Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

9. Hoàng Văn Tr, sinh ngày 10/ 6/ 1978, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm TM, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm TM, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 4/12.

Con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1953; Con bà: Lê Thị Tr, sinh năm 1954 Vợ: Trần Thị Nh, sinh năm 1978; có 03 con, sinh năm 1998, 2001; 2009 Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ 2. Tiền án, tiền sự: Không Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

10. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/ 02/1983, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 2/12.

Con ông: Nguyễn Đình Th, sinh năm 1958; Con bà: Lê Thị L, sinh năm 1963 Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1984; có 03 con; sinh năm 2004, 2007, 2015 Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con đầu. Tiền án, tiền sự: Không Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

11. Nguyễn Nho B, sinh ngày 02/12/1983, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nuôi tôm; Trình độ học phổ thông: 3/12.

Con ông: Nguyễn Đức T, sinh năm 1942; Con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1951 Vợ: Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1986, Có 03 con: sinh năm 2005, 2008, 2011. Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 5. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

12. Trần Xuân S, sinh ngày 01/ 7/ 1978, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: xóm TM, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Nơi ĐKNKTT: xóm TM, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Đánh cá biển; Trình độ học phổ thông: 3/12.

Con ông: Trần Xuân Ph; sinh năm 1938; Con bà: Lê Thị B; sinh năm 1941 Vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1982; có 03 con: sinh năm 1999, 2001, 2004. Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ 5. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019. Hiện đang tại ngoại, Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1984. Có mặt. Địa chỉ: xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 00 giờ 05 phút, ngày 20/9/2019 tại nhà bếp của gia đình Nguyễn Văn Tn,( thuộc xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An). Trong khi Nguyễn Văn Đ, Trần Xuân Chh, Mai Văn Th, Trần Xuân S, Cao Văn L, Nguyễn Thị Vh, Hoàng Văn Tr, Nguyễn Văn ThT, Nguyễn Nho B, Nguyễn Thị Thh và Nguyễn Văn Ch và Nguyễn Văn Tn đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an thị xã Hoàng Mai phát hiện, bắt quả tang. Trần Xuân S bỏ chạy, đến chiều cùng ngày thì ra đầu thú.

Thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; thu giữ số tiền 2.800.000đ tại bình Gas cạnh chiếu bạc. Đồng thời thu giữ được một số tiền xung quanh nơi đánh bạc; thu giữ tiền trên người và thu giữ một số xe mô tô, điện thoại di động của các đối tượng đánh bạc.

* Quá trình điều tra, xác định được vật chứng vụ án như sau:

+ Số tiền không dùng vào đánh bạc 6.650.000đ. Trong đó: do thu giữ của chị Nguyễn Thị Th 3.400.000đ; do thu giữ của Nguyễn Văn Đ 3.250.000đ.

+ Số tiền từng đối tượng dùng váo đánh bạc, như sau:

Trần Xuân Chh 15.000.000đ; Nguyễn Thị Thh 4.300.000đ; Nguyễn Thị Vh 4.000.000đ; Nguyễn Văn Ch 3.000.000đ; Nguyễn Văn Tn 2.900.000đ; Mai Văn Th 2.500.000đ; Cao Văn L 1.800.000đ; Nguyễn Văn Đ 1.560.000đ; Hoàng Văn Tr 1.500.000đ; Nguyễn Văn ThT 1.500.000đ; Nguyễn Nho B 880.000đ; Trần Xuân S 100.000đ.

Tổng cộng là 38.940.000đ (Ba tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

+ Cơ quan điều tra xử lý vật chứng vụ án và tài sản liên quan như sau:

- Đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 điện thoại di động cũ nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 3 thu giữ của Nguyễn Văn Tn.

- Đã chuyển vào Kho bạc tại tài khoản tạm giữ của Công an thị xã Hoàng Mai số tiền 45.590.000đồng, (trong đó có 38.940.000đ là tiền đánh bạc; 3.400.000đ là của chị Nguyễn Thị Th; 3.250.000đ là tiền của Nguyễn Văn Đ).

- Đã trả điện thoại di động (ĐTDĐ) và xe mô tô cho các chủ sở hữu, gồm: Hoàng Văn Tr 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO; Nguyễn Văn Ch 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8; Trần Xuân Chh 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO; Nguyển Văn ThT 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung galaxy Note 8 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, có BKS: 37L1 -219.32; Mai Văn Th 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6S; Nguyễn Nho B 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia T4-1013; Nguyễn Thị Vh 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX 110, có BKS: 37L1 -565.78; Trần Xuân Chh 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate 125, có BKS: 38N4-4537 và Nguyễn Nho B 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter X1R, BKS: 37L1-686.43.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, số 97/CT-VKS-HM, ngày 12 tháng 11 năm 2018, căn cứ tổng số tiền xác định dùng vào đánh bạc trong vụ án là 38.940.000đồng. Truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, Nghệ An để xét xử: Trần Xuân Chh, Nguyễn Thị Thh Nguyễn Thị Vh, Nguyễn Văn Ch và Nguyễn Văn Tn, Mai Văn Th, Cao Văn L, Hoàng Văn Tr, Nguyễn Văn ThT, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Nho B và Trần Xuân S, về tội “Đánh bạc", theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015.

*Tại phiên tòa:

+Kiểm sát viên giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 58, BLHS xử phạt Trần Xuân Chh từ 12-15 tháng tù. Áp dụng điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 7 tháng tù theo bản án số 86/2019/HSST ngày 28/10/2019 của TAND thị xã Hoàng Mai, buộc bị cáo chấp hành cả hai bản án là từ 19-22 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 (đối với Vh và Tn) Điều 51, Điều 58 BLHS, xử phạt: Nguyễn Thị Vh, Nguyễn Thị Thh và Nguyễn Văn Tn, mỗi bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù.

- Áp dụng khoản1, khoản 5 Điều 321, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 (đối với Ch, Tr, Đ, B) Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS, xử phạt: Nguyễn Văn Ch, Cao văn L, Mai Văn Th, Nguyễn Văn ThT, Nguyễn Nho B, Hoàng Văn Tr, Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000đồng

- Áp dụng khoản1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS, xử phạt Trần Xuân S từ 06 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập của bị cáo từ 700.000đ đến 1.000.000 đồng/ tháng. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ 9 ngày x 3 = 27 ngày.

*Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 38.940.000đ, là tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, Tịch thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 3 màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Tn đây là công cụ phạm tội bị cáo Tn dùng để gọi người khác đến nhà mình để đánh bạc.

Áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 3.250.000 đồng, trả cho chị Nguyễn Thị Th số tiền 3.400.000 đồng đây là số tiền không dùng vào việc đánh bạc.

Đối với những chiếc điện thoại và xe mô tô thu giữ của các bị cáo , quá trình điều tra các bị cáo không dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai đã trả lại cho các bị cáo theo đúng quy định.

+Các bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và số tiền sử dụng vào đánh bạc. Đồng thời trình bày: Do kém hiểu biết pháp luật, gặp nhau đi công việc về thì rủ nhau đánh cho vui, đề nghị được Hội đồng xét xử chiếu cố giảm nhẹ mức án.

-Bị cáo Tn trình bày: Là anh em bạn bè đi biển với nhau cả, họ kéo nhau về nhà bị cáo thì như thông thường họ vào chơi, là chủ nhà mua bài giúp họ, bị cáo không có ý định gì. Đề nghị HĐXX xử phạt được cải tạo tại địa phương.

-Bị cáo Thh và Vh trình bày: Gia đình khó khăn, chồng đi làm ăn xa, một mình nuôi Đng con còn nhỏ. Đề nghị HĐXX xử phạt được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vụ án hình sự: Đánh bạc, xẩy ra sau thời điểm 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 (Thời điểm có hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự 2015). Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến hành tố tụng vụ án theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự  2015; Trình tự thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về việc áp dụng bộ luật hình sự: Kết luận đề nghị của cơ quan điều tra; Kết luận truy tố của Viện kiểm sát,và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án căn cứ các quy định tại Bộ luật hình sự 2015 là đúng pháp luật.

[3] HĐXX đã làm rõ được diễn biến vụ án như nội dung tóm tắt vụ án đã nêu trên. Qua đó cho thấy:

Trình bày của các bị cáo Trần Xuân Chh và đồng bọn tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, công cụ phương tiện tài sản phạm pháp; phù hợp với nội dung tài liệu vụ án của cơ quan điều tra Công an thị xã Hoàng Mai. Nên khẳng định các bị cáo Trần Xuân Chh, Nguyễn Thị Thh, Nguyễn Thị Vh, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn Tn, Mai Văn Th, Cao Văn L, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn Tr, Nguyễn Văn ThT, Nguyễn Nho B, Trần Xuân S và có hành vi đánh bài “liêng” ăn tiền, với tổng số tiền xác định được 38.940.000đ, là trên mức 5.000.000đồng theo quy định của BLHS.

Căn cứ hành vi, số tiền và nội dung phân tích nên trên, có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Trần Xuân Chh, Nguyễn Thị Thh, Nguyễn Thị Vh, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn Tn, Mai Văn Th, Cao Văn L, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn Tr, Nguyễn Văn ThT, Nguyễn Nho B, Trần Xuân S phạm tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 điều 321 BLHS 2015 như VKSND thị xã Hoàng Mai đã truy tố.

[4]Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội. Việc tìm cách sát phạt nhau bằng con đường đánh bạc đã làm cho nền tảng kinh tế, hạnh phúc nhiều gia đình nguy cơ đổ vỡ, làm mất trật tự an toàn xã hội. Hành vi đánh bạc tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội nếu không ngăn chặn kịp thời. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để ngăn chặn, phòng ngừa và răn đe tội phạm.

*Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (trừ Trần Văn Chh); Trần Xuân S tự nguyện đầu thú.

Nguyễn Nho B, có bố Thương binh nặng 1/4 ; Hoàng Văn Tr, có bố được tặng Huân chương chiến sỹ Giải phóng; Trần Xuân S; có bố được tặng Huân chương Kháng chiến; Nguyễn Văn Đ có bố tham gia quân đội làm nhiệm vụ Quốc tế; Nguyễn Thị Vh có bố mẹ tham gia quân đội trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Trần Xuân Chh có mẹ tham gia Dân công hỏa tuyến- chống Mỹ cứu nước; Nguyễn Thị Thh có bố tham gia quân đội 20 năm trong kháng chiến chống Mỹ. Nguyễn Văn Ch có bố tham gia quân đội 15 năm trong kháng chiến chống Mỹ. Nguyễn Văn Tn có bố tham gia Dân công hỏa tuyến- chống Mỹ cứu nước, Trần Xuân S tự nguyện đầu thú. Là tình tiết giảm nhẹ được vận dụng tại khoản 2 điều 51 BLHS.

*Tình tiết tăng nặng và phân tích đánh giá trước khi quyết định hình phạt:

-Đối với bị cáo Trần Xuân Chh:

Bản án số 20/2014/HSST, ngày 24/4/2014 của TAND thị xã Hoàng Mai xử phạt tiền 10.000.000đồng, mới thi hành xong ngày 21/8/2019, chưa được xóa án tích.

Ngày 26/7/2019 tiếp tục đánh bạc, bị TAND thị xã Hoàng Mai xử phạt 7 tháng tù theo bản án số 86/2019/HSST, ngày 28/10/2019.

Trong thời gian điều tra vụ án đánh bạc ngày 26/7/2019 nói trên, thì ngày 20/9/2019 Trần Xuân Chh tiếp tục đánh bạc (như đã tóm tắt vụ án này).

Nên bản án này chỉ căn cứ Bản án số 20/2014/HSST ngày 24/4/2014 chưa được xóa án tích để xác định bị cáo phạm tội mới khi chưa được xóa án tích, là thuộc trường hợp: Tái phạm. Tham gia đánh bạc với số tiền lớn nhất trong vụ án. Chứng tỏ bị cáo rất ngang nhiên coi thường pháp luật, khó rèn luyện cải tạo tại địa phương.

Bản án số 86/2019/HSST, ngày 28/10/2019 của TAND thị xã Hoàng Mai, Nghệ An xử phạt 07 tháng tù. Nên bản án này không thể xử cải tạo tại địa phương, mà phải xử phạt tù giam đối với bị cáo. Đồng thời tổng hợp hình phạt của 2 bản án theo quy định tại điều tại điều 56 và khoản 5 điều 65 BLHS. Nhưng bị cáo có mẹ tham dân công hỏa tuyến trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nên được chiếu cố giảm nhẹ một phần.

-Đối với các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ít học, kém hiểu biết pháp luật, là lực lượng lao động Ch của gia đình cũng như địa phương với nghề đánh bắt hải sản trên biển. Nên không cần thiết xử phạt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội. Nhưng việc tụ tập một lúc Đng người đánh bạc thâu đêm cũng cần lên án, nên phải xử phạt nghiêm để răn đe nhắc nhở các bị cáo, tương xứng với mức độ hành vi từng bị cáo đã thực hiện. Trong đó: Các bị cáo Nguyễn Văn Tn, Nguyễn Thị Vh, Nguyễn Thị Thh và Nguyễn Văn Ch: số tiền tham gia đánh bạc ở mức tiền thứ 2 trong vụ án. Trong đó, Tn cung cấp địa điểm, công cụ đánh bạc, là người giữ vai trò chủ yếu; Vh và Thh có tiền sự về hành vi đánh bạc; Ch có nhân thân xấu về hành vi cố ý gây thương tích. Nhưng Tn, Vh, Thh và Ch có bố từng là quân nhân, dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nên được chiếu cố giảm nhẹ một phần. Do đó hình phạt đối với 4 bị cáo là tương đương nhau. Riêng đối với Ch được giảm nhẹ nhiều hơn, do Quyết định xử phạt hành Ch từ năm 2015 thì đương nhiên đã được xóa (hết hiệu lực).

Các bị cáo Mai Văn Th, Cao Văn L, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn Tr và Nguyễn Văn ThT dùng số tiền tham gia đánh bạc tương đương nhau, nhưng ít hơn Tn, Ch, Vh và Thh. Nhưng Đ có bố tham gia quân đội làm nhiệm vụ Qtế; Tr có bố có được thưởng Huân chương chiến sỹ Giải phóng, nên được chiếu cố giảm nhẹ một phần; L và Th đến tham gia đánh sau và số tiền đánh bạc cũng ít hơn, kể cả ThT. Nên hình phạt đối với 5 bị cáo là tương đương nhau.

Các bị cáo Nguyễn Nho B và Trần Xuân S dùng số tiền tham gia đánh bạc ít nhất trong vụ án. Nên hình phạt đối với 2 bị cáo là tương đương nhau. Nhưng B có bố là thương binh nặng; S chỉ đánh 3 ván với 100.000đ, nên đều được chiếu cố giảm nhẹ với hình phạt thấp nhất.

Do đó, xử phạt các bị cáo Chh và S, và áp dụng chế tài kinh tế đối với tất cả các bị cáo( trừ bị cáo Chh) như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp. Nhưng hình phạt đối với các bị cáo còn lại cần được khoan hồng như: Có nhiều tình tiết giảm nhẹ (như đã phân tích trên); Thh và Vh là phụ nữ, đang nuôi Đng con nhỏ ăn học, là đối tượng đang được toàn xã hội quan tâm; Tn cho người quen thân đánh bạc tại nhà nhưng không có động cơ mục đích cá nhân; Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Nên cần chiếu cố để áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, nhưng cũng đủ để răn đe nhắc nhở giáo dục các bị cáo.

[5]Về vật chứng: Các bị cáo dùng một bộ bài tú lơ khơ làm phương tiện phạm tội nên tiêu hủy. Số tiền thu được từ hành vi đánh bạc là 38.940.000đồng , có căn cứ là tiền dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung công.

Số tiền xác định không dùng vào đánh bạc thì trả lại cho chủ sở hữu, gồm: chị Nguyễn Thị Th 3.400.000đ; Nguyễn Văn Đ 3.250.000đ.

Thu giữ của Nguyễn Văn Tn 01 điện thoại di động cũ nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 3. Đó là phương tiện liên lạc trong sinh hoạt làm ăn thường xuyên của cá nhân. Mặc dù Tn khai là có gọi điện cho Thh, nhưng không có kết quả kiểm chứng.Vụ đánh bạc cũng chỉ là tình cờ, không phải tổ chức đánh bạc hay gá bạc, nên không cần thiết tịch thu, mà trả lại điện thoại cho bị cáo.

Cơ quan điều tra thu giữ tài sản là: Điện thoại và xe máy. Quá trình điều tra không chứng minh được tài sản trên dùng vào việc phạm tội, nên đã trả lại cho chủ sở hữu. Việc giao trả trên là cần thiết, đúng pháp luật. Tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa, không ai yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

[6] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bởi những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 56 BLHS. Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Nghị Quyết 326/2016/QH14.

Xử phạt: Trần Xuân Chh 09 ( Chín ) tháng tù về tội: Đánh bạc.

Tổng hợp với hình phạt 07 (Bảy) tháng tù tại Bản án số 86/2019/HSST, ngày 28/10/2019 của TAND thị xã Hoàng Mai, Nghệ An.

Buộc bị cáo Trần Xuân Chh phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là: 16 (Mười sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/9/2019.

2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 36 BLHS. Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. NQ326/2016/QH14.

Xử phạt: Nguyễn Văn Tn 24 (Hai tư) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến 29/9/2019,là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 24 tháng = 24.000.000đồng.

Xử phạt: Nguyễn Thị Vh 24 (Hai tư) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến 29/9/2019,là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 24 tháng = 24.000.000đồng

Xử phạt: Nguyễn Thị Thh 24 (Hai tư) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến 29/9/2019,là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 24 tháng = 24.000.000đồng

Xử phạt: Nguyễn Văn Ch 21 (Hai mốt) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến 29/9/2019, là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 21 tháng = 21.000.000đồng.

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019, là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 15 tháng = 15.000.000đồng

Xử phạt: Hoàng Văn Tr 15 (Mười lăm) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019, là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 15 tháng = 15.000.000đồng

3. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 36 BLHS. Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. NQ326/2016/QH14.

Xử phạt: Mai Văn Th 15 (Mười lăm) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến 29/9/2019,là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 15 tháng = 15.000.000đồng.

Xử phạt: Cao Văn L 15 (Mười lăm) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến 29/9/2019,là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 15 tháng = 15.000.000đồng.

Xử phạt: Nguyễn Văn ThT 15 (Mười lăm) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019, là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 15 tháng = 15.000.000đồng.

4. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 36 BLHS. Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. NQ326/2016/QH14.

Xử phạt: Nguyễn Nho B 06 (Sáu) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019, là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/tháng x 6 tháng = 6.000.000đồng.

Xử phạt: Trần Xuân S 06 (Sáu) tháng cải tại không giam giữ, về tội: Đánh bạc. Nhưng được trừ 27 ngày (do tạm giữ từ ngày 20/9/2019 đến ngày 29/9/2019, là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập: 1.000.000đ/ tháng x 6 tháng = 6.000.000đồng Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo: Vh, Tn, Thh, Ch, Đ, Tr, Th, L, ThT, B và S được tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao các bị cáo Nguyễn Thị Thh, Nguyễn Thị Vh, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn Tn, Mai Văn Th, Cao Văn L, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn Tr, Nguyễn Văn ThT, Nguyễn Nho B, Trần Xuân S cho Ch quyền địa phương xã Q (thị xã H, tỉnh Nghệ An) phối hợp cùng gia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

*Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 BLTTHS

- Tiêu hủy một bộ bà tú lơ khơ 52 quân.

- Trả cho Nguyễn Văn Tn 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 3.

(Đặc điểm và số lượng có tại B bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2019 giữa Công an thị xã Hoàng Mai và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai).

-Tịch thu sung công 38.940.000đồng;

-Trả lại cho chị Nguyễn Thị Th 3.400.000đồng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 3.250.000đồng, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Số tiền tịch thu và tiền trả lại được khấu trừ tại giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24/9/2019 giữa Công an thị xã Hoàng Mai và Kho bạc nhà nước Hoàng Mai).

*Về án phí: Các bị cáo Trần Xuân Chh, Nguyễn Thị Thh, Nguyễn Thị Vh, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn Tn, Mai Văn Th, Cao Văn L, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn Tr, Nguyễn Văn ThT, Nguyễn Nho B và Trần Xuân S, mỗi người phải chịu 200.000đồng án phí HSST.

* Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án: Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.


5
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 99/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:99/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hoàng Mai - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về