Bản án 989/2019/HNGĐ-PT ngày 05/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 989/2019/HNGĐ-PT NGÀY 05/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H (số 26 đường LTT, phường BN, Quận M, Thành phố H) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 110/2019/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 về Tranh chấp Ly hôn.

Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 902/2019/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4793/2019/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc C, sinh năm: 1991.

Đa chỉ: 3/15 đường Từ Dũ, ấp HH, xã LH, thị xã GC, tỉnh TG. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Phước T, sinh năm: 1981.

Đa chỉ: Thôn Cang Đông, xã QC, huyện QS, tỉnh QN.

Địa chỉ cư trú: 21/7W đường X, ấp X, xã X, huyện HM, Thành phố H. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2019 và trong quá trình tố tụng, bà Lê Ngọc C - nguyên đơn trình bày:

Năm 2013, Bà và ông Trần Phước T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LH, thị xã GC, tỉnh TG (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2013, quyển số I/2012 ngày 20/5/2013).

Trong thời gian chung sống, Bà và chồng không hạnh phúc do ông T thường xuyên bạo lực gia đình, bạo hành tình dục, chửi bới, xúc phạm vợ và gia đình vợ; Bà đã nhiều lần tạo cơ hội để chồng thay đổi nhằm giữ hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Tháng 12/2018, Bà đưa con về nhà cha mẹ ruột ở TG sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay.

Bà C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung tên Trần Ngọc B (giới tính nữ), sinh ngày 14/3/2013. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Phước T - bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt không lý do.

Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 902/2019/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 8 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện HM đã quyết định:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc C.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc C được ly hôn ông Trần Phước T.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc B (giới tính nữ), sinh ngày 14/3/2013 cho bà Lê Ngọc C trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông T do bà C chưa có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Ngọc C khai không có.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/8/2019 ông Trần Phước T kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc B.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Trần Phước T vẫn giữ nguyên kháng cáo với lý do hiện tại Ông đã có chỗ ở, có thu nhập thu nhập ổn định từ công việc tiếp thị - bán hàng với mức lương mỗi tháng 8.000.000 (tám triệu) đồng, ngoài khoản tiền lương nói trên Ông còn có thu nhập từ hợp đồng kinh doanh cà phê nên đủ điều kiện để nuôi con, giờ giấc làm việc ổn định, hiện đang sống ở Thành phố H môi trường sống và học tập sẽ tốt hơn so với bà Lê Ngọc B hiện đang ở tỉnh TG.

- Nguyên đơn bà Lê Ngọc C không rút Đơn khởi kiện, không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm đồng thời có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố H đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn luật định.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng nguyên tắc xét xử, đảm bảo cho các bên đương sự được phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm và tranh luận; các đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

- Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Trần Phước T còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

- Về nội dung kháng cáo:

Qua lời trình bày của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm đồng thời xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, xét về điều kiện hoàn cảnh của cả ông T và bà C thì bà C có điều kiện nuôi con hơn so với ông T vì hiện tại trẻ đang sống chung với mẹ, đang đi học ở TG gần nơi ở và nơi làm việc của bà C; mặt khác, con chung là tr gái đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh l ý nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông T, giao con chung cho bà C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự ổn định, tránh xáo trộn cuộc sống, tạo điều kiện để tr phát triển toàn diện về mọi mặt.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng, thi hành khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Trần Phước T phù hợp với quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2013, quyển số I/2012 ngày 20/5/2013 của Ủy ban nhân dân xã L H, thị xã GC, tỉnh TG thì hôn nhân giữa ông Trần Phước T và bà Lê Ngọc C là hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tình trạng và mục đích hôn nhân đã quyết định cho ly hôn giữa bà C với ông T, phần này các đương sự không kháng cáo và không bị kháng nghị nên phát sinh hiệu lực pháp luật.

Xét kháng cáo của ông Trần Phước T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc B, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với con chung, bà Châu và ông T đều có tình yêu thương con như nhau, đều muốn được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi cần xét đến hoàn cảnh thực tế của mỗi bên sau khi ly hôn để quyết định nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho trẻ. Theo bà C khai, Bà có nghề nghiệp ổn định, hiện là nhân viên tư vấn bán hàng với mức thu nhập hàng tháng là 6.000.000 (sáu triệu) đồng cộng với khoản tiền hoa hồng cho mỗi sản phẩm Công ty bán ra; ông T cho biết Ông cũng có điều kiện tốt, có thu nhập 8.000.000 (tám triệu) đồng/tháng từ công việc tiếp thị - bán hàng và khoản thu nhập từ hợp đồng kinh doanh cà phê nên đảm bảo cuộc sống cho con, tuy nhiên như trên đã nhận định việc giao con cho ai trực tiếp nuôi đều phải vì lợi ích của tr .

- Về điều kiện chỗ ở và giờ giấc làm việc: Ông T hiện đang thuê nhà ở xã X, huyện HM, làm việc và kinh doanh trong khu vực huyện HM và Quận MH; bà C đang ở cùng với cha, mẹ ruột ở thị xã GC, tỉnh TG, cả 02 đều làm việc trong giờ hành chính.

- Về nơi học tập của tr Trần Ngọc B: Hiện con chung đang học lớp 1 của trường tiểu học L H (xã LH, thị xã GC, tỉnh TG) đồng thời đang theo học khóa học ngoại ngữ của Trung tâm ngoại ngữ Cambridge (số 11 đường PCT, Phường M, thị xã GC, tỉnh TG).

Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: xét về việc làm, thu nhập, chỗ ở thì cả ông T và bà C đều có điều kiện như nhau nhưng trên thực tế con chung đang sống cùng với mẹ, trẻ đang đi học ở TG đồng thời được mẹ cho học thêm ngoại ngữ, 02 nơi học của trẻ đều gần với nơi ở và nơi làm việc của bà C, bên cạnh đó bà C còn có sự hỗ trợ, giúp đỡ của ông, bà ngoại nên việc đưa đón, chăm sóc, dạy dỗ con chung trong thời gian vừa qua không có vấn đề gì cần lưu ý; mặt khác, hiện con chung là trẻ gái, đã gần 07 tuổi và đang trong giai đoạn phát triển về giới, về tâm sinh lý nên mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sẽ phù hợp, thuận lợi hơn nên Tòa án cấp sơ thẩm giao con chung cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ. Do đó, để đảm bảo được sự ổn định về mặt tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống xét thấy cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm về vấn đề con chung, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ông T, tiếp tục giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng nhằm tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt, đây cũng là đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Phước T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng, thi hành khi án có hiệu lực pháp luật.

[3]. Những nội dung khác trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Về án phí: Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ và án phí dân sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Phước T về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Giao con chung tên Trần Ngọc B (giới tính nữ), sinh ngày 14/3/2013 cho bà Lê Ngọc C trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Phước T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng, thi hành khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi trẻ B đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

2. Về án phí: Ông Trần Phước T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0004865 ngày 29/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HM, Thành phố H. Ông T còn phải nộp thêm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Những nội dung khác trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


127
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 989/2019/HNGĐ-PT ngày 05/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:989/2019/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về