Bản án 98/2018/HS-ST ngày 21/03/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 98/2018/HS-ST NGÀY 21/03/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12/ 3/ 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/ 2018/ HSST ngày 09/02/2018 đối với bị cáo:

Đoàn Thanh M- Sinh 1985; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: đường P, Phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: LĐTD; Văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đoàn Văn C và bà Nguyễn Thị D; có chồng là Hồ Sỹ D (đã chết) và có 02 con ( Con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ từ ngày 09/11/2017 chuyển tạm giam từ ngày 15/11/2017 đến nay, tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa - Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18h30 phút ngày 09/11/2017, tổ công tác tuần tra đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa đang làm nhiệm vụ tại đường L, phường L, thành phố T thì phát hiện bắt quả tang Đoàn Thanh M đang cất giữ trong người 02 gói nilon màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa 05 viên nén màu cam. M đã tự giác giao nộp và khai nhận đó là 02 gói ma túy, M đang cất giữ để bán cho khách. Tổ công tác lập biên bản và thu giữ vật chứng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Thanh M đã thu giữ được trong tủ quần áo tại phòng ngủ tầng 2 tại đường P, Phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa 05 gói ni lon màu trắng, mỗi gói có kích thước khoảng 2x2 cm bên trong mỗi gói đều chứa các hạt tinh thể màu trắng và 03 gói nilon màu trắng, KT mỗi gói khoảng 3x3cm bên trong có chứa tổng 16 viên dạng nén màu cam.

Tại kết luận giám định số 5735/ C54 ( TT2) ngày 07/12/2017 củaViện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

- Mẫu viên nén màu cam trong 02 gói nilon KT 3x3 gửi giám định đều là ma túy, có tổng trọng lượng 4,520gam loại: MDMA và MDA.

- Mẫu hạt tinh thể màu trắng trong 05 gói nilon KT 2x2 cm gửi giám định đều là ma túy, có tổng trọng lượng 5,098gam loại: Ketamine.

- Mẫu viên nén màu cam trong 03 gói nilon KT 3x3cm gửi giám định đều là ma túy, có tổng trọng lượng 7,220gam loại: MDMA và MDA.

Tại cơ quan điều tra, Đoàn Thanh M khai nhận: Do có mối quan hệ quen biết với Lê Quốc Tuấn A, nên khi được Tuấn A trao đổi: Tuấn A sẽ đưa ma túy cho M cất giữ, khi nào có khách hỏi mua ma túy Tuấn A sẽ gọi điện để M mang ma túy đến bán cho khách và nhận tiền, Tuấn A sẽ trả tiền công, M đã đồng ý. Khoảng đầu tháng 11/2017 Tuấn A đến nhà Đoàn Thanh M và đưa cho M tất cả 05 gói Ketamine và 05 gói thuốc lắc bên trong chứa tổng 26 viên, M cầm số ma túy trên bỏ vào túi vải màu đen cất trong tủ quần áo của mình, Tuấn A dặn M bán số ma túy trên với giá 2.250.000đ/ 01 gói ketamine và 500.000đ/01 viên thuôc lắc. Nếu bán hết số ma túy trên, Tuấn A trả công cho M 3.000.000đ. Đến khoảng 18h ngày 09/11/2017, Tuấn A gọi điện thoại cho M bảo M đem 10 viên thuốc lắc đến đường L, phường L, thành phố T để bán cho một người bạn của Tuấn A ( M không biết người mua ma túy là ai, Tuấn A nói cứ đến đó sẽ có người ra lấy). M đã lấy 02 gói ni lon chứa 10 viên thuốc lắc đem đến chỗ hẹn để bán. Khi M vừa đến nơi chưa kịp bán thì bị Công an thành phố bắt quả tang.

Quá trình điều tra Đoàn Thanh M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: 01 phong bì ma túy niêm phong số 5735/C 54 (TT2) của Viện Khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát, được đóng dấu của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát, có chữ ký, chữ viết của Vũ Thị M.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại chi cục Thi Hành Án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 85/THA ngày 09/02/2018 giữa Công an với Thi Hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Tại bản cáo trạng số 64/ KSĐT- MT ngày 08/ 02/ 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh M về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo qui định tại Khoản 1 Điều 194 của BLHS năm 1999.

Tại phiên tòa đại diện VKSND TP.Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của BLHS. Khoản 1, Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

Xử phạt bị cáo mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù và tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ TNHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 18h ngày 09/11/2017, Tuấn A là bạn quen biết ngoài xã hội của bị cáo có gọi điện bảo bị cáo đem 10 viên thuốc lắc đến đường L, P. L, thành phố T để bán cho khách và lấy tiền, bị cáo đã đem 02 gói nilon màu trắng bên trong có 10 viên thuốc lắc đến, nhưng chưa kịp giao thì bị công an bắt quả tang và thu giữ tang vật. Quá trình khám xét nơi ở của bị cáo Công an đã thu giữ 05 gói ni lon màu trắng, mỗi gói có kích thước khoảng 2x2 cm bên trong mỗi gói đều chứa các hạt tinh thể màu trắng và 03 gói nilon màu trắng, KT mỗi gói khoảng 3x3cm bên trong có chứa tổng 16 viên dạng nén màu cam. Toàn bộ số ma túy công an thu giữ là của Tuấn A đưa cho bị cáo bán để lấy tiền công.

Kết quả giám định số ma túy thu giữ có tổng trọng lượng 11,740gam loại MDMA và MDA và 5,098gam loại Ketamine.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” tội danh và khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của BLHS năm 1999. Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 của BLHS là đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.

Mặc dù nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại quá trình Điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, nên khi xem xét hình phạt đối với bị cáo cũng cần áp dụng Điểm p Khoản 1 Điều 46 của BLHS 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về vật chứng: 01 phong bì ma túy niêm phong số 5735/C 54 (TT2) của Viện Khoa học hình sự là vật cấm lưu hành, nên áp dụng Khoản 1, Điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

\Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 1, Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên b: Bị cáo Đoàn Thanh M phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đoàn Thanh M 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2017.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong số 5735/C 54 (TT2) của Viện Khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát, được đóng dấu của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát, có chữ ký, chữ viết của Vũ Thị M. Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại chi cục Thi Hành Án dân sự theo biên bản giao nhận vật chứng số 85/THA ngày 09/02/2018 giữa Công an với Chi cục Thi Hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c- ưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7, 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 98/2018/HS-ST ngày 21/03/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:98/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về