Bản án 98/2018/DS-ST ngày 31/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 98/2018/DS-ST NGÀY 31/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 25 và 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2012/TLST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2012 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2018/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B; Địa chỉ: Đường 785, ấp Thạnh P, xã Tân H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trường A, sinh năm 1974, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1979; chức vụ: Giám đốc. (theo giấy ủy quyền số 286/GUQ ngày 18 tháng 10 năm 2016) Bị đơn: Ông Xan Sà C, sinh năm 1965 và bà Lô H, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ 06 (tổ 05 cũ), ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt có đơn).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Dương Thị H; sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ 6, ấp Đông B, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt có đơn).

2/ Bà Lâm N, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt có đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14-3-2012, đơn khởi kiện bổ sung ngày 14-11-2016 và lời khai tại Tòa án, đại diện nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu H trình bày: Ngày 21/3/2007 ông Xan Sà C và bà Lô H có vay tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B bằng hợp đồng tín dụng số 276/2007/HĐTD số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng, thời hạn vay là 36 tháng (21.3.2007 đến 21.3.2010), mục đích vay là để mua xe gắn máy và sửa nhà, lãi suất theo hợp đồng tín dụng là 1.35%/tháng, lãi suất quá hạn là 2.025%/tháng. Vay có thế chấp tài sản là:

- Quyền sử dụng đất 568 m2 đất (400m 2 đất lâu dài và 168 m2 đất vườn) thửa số 39, tờ bản đồ số 15. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00163 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 16/8/2001 cấp cho ông Xan Sà C;

- Quyền sử dụng đất 4060 m2 đất (đất trồng lúa) thửa số 1764, 1947, 1948, 1949, tờ bản đồ số 5. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 001053 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 21/12/1999 cấp cho ông Xan Sà C.

Sau khi vay ông, bà đã trả nhiều lần tổng cộng 8.500.000 (tám triệu năm trăm nghìn) đồng tiền gốc và 7.310.6000 (bảy triệu ba trăm mười nghìn sáu trăm) đồng tiền lãi.

Đến nay ông Xan Sa C và bà Lô H còn nợ số tiền gốc là 16.500.000 (mười sáu triệu, năm trăm nghìn) đồng và lãi phát sinh đến ngày 13/11/2016 là 31.365.100 ( Ba mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm) đồng, tổng cộng gốc và lãi là 47.865.100 ( bốn mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm) đồng. Nay Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B yêu cầu ông Xan Sà C và bà Lô H trả lải số tiền gốc và lãi là 47.865.100 đồng.

Lời khai của ông Xan Sa C: Vào ngày 21/3/2007 thông qua môi giới của bà Lâm N ông Xan Sà C và bà Lô H có vay tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân công ty cao su Tân B bằng hợp đồng tín dụng số: 276/2007/HĐTD số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay là để trồng mì, lãi suất theo hợp đồng tín dụng là 1.35%/tháng, lãi suất quá hạn là 2.025%/tháng. Vay có thế chấp tài sản là:

- Quyền sử dụng đất 568 m2 đất (400m 2 đất lâu dài và 168 m2 đất vườn) thửa số 39, tờ bản đồ số 15. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00163 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 16/8/2001 cấp cho ông Xan Sà C;

- Quyền sử dụng đất 4060 m2 đất (đất trồng lúa) thửa số 1764, 1947, 1948, 1949, tờ bản đồ số 5. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 001053 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 21/12/1999 cấp cho ông Xan Sà C;

Sau khi vay, đến kỳ trả nợ một năm sau ông, bà có trả được lần đầu tiền gốc là 2.000.000 đồng đưa cho bà Lâm N vào ngày tháng nào không nhớ rõ nhưng không có phiếu thu hay biên nhận gì.

Lần 2: trả 2.000.000 đồng tiền gốc và 1.008.000 đồng tiền lãi theo phiếu thu ngày 25/5/2009 của Quỹ tín dụng.

Lần 3: trả 1.000.000 đồng tiền gốc và 418.200 đồng tiền lãi theo phiếu thu ngày 27/10/2009 của Quỹ tín dụng.

Lần 4: trả 5.000.000 đồng tiền gốc và 180.000 đồng tiền lãi theo phiều thu ngày 15/01/2010 của Quỹ tín dụng.

Lời khai của bà Lô H: Bà thống nhất với lời khai của ông Xan Sa C, không bổ sung gì thêm.

Lời khai của bà Lâm N: Khoảng tháng 3/2007, người tên Tuấn là nhân viên của doanh nghiệp tư nhân Sơn Thành Tân (gọi là Doanh nghiệp) đến gặp bà và thông báo hộ người dân tộc cần vay tiền để mua xe, sửa nhà thì giới thiệu để Tuấn làm thủ tục, bà đã giới thiệu cho hộ Xan Sa C và một số hộ khác đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến để làm thủ tục vay tiền. Tuấn đem hồ sơ đến tại nhà bà để các hộ vay đến lăn tay và Tuấn đem hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân xã Tân Đông chứng thực, khoảng 10 ngày sau Tuấn thông báo cho bà và bà Hải đưa các hộ vay là người dân tộc và người kinh đến Qũy tín dụng làm thủ tục nhận tiền, nhưng sau khi ông Xan Sa C, Lô H và các hộ vay lăn tay tại Qũy tín dụng thì cho về vì chưa có tiền. Sau đó khoảng 02 ngày ông Thành là chủ doanh nghiệp Sơn Thành Tân thông báo cho bà và bà Hải đến nhận tiền, số tiền ông Thành giao bao nhiêu bà không nhớ và cũng không làm giấy biên nhận. Hộ vay 10.000.000 đồng phải trả tiền công đi làm hồ sơ cho nhân viên của Doanh nghiệp 500.000 đồng và 50.000 đồng làm thẻ thành viên vay vốn, ông Xan Sa C, bà Lô H đến nhà bà nhận được số tiền của mỗi hộ 9.450.000 đồng.

Lời khai của bà Dương Thị H: Khoảng tháng 3/2007, bà có giới thiệu ông Xan Sa C và bà Lô H và một số hộ người kinh đến Doanh nghiệp để vay tiền mua xe. Trước khi đến Qũy tín dụng vay tiền, thì người tên Tuấn là nhân viên của Doanh nghiệp đem hồ sơ đến nhà bà Nữ cho các hộ vay là người dân tộc lăn tay, còn ông Xan Sa C, bà Lô H đến lăn tay vào hồ sơ tại nhà bà, số tiền vợ chồng ông Xan Sa C yêu cầu vay là 10.000.000 đồng, nhưng trong hợp đồng ghi số tiền vay bao nhiêu bà không biết, tất cả hợp đồng vay vốn sau đó Tuấn đem đến Uỷ ban nhân dân xã Tân Đông chứng thực. Khoảng 10 ngày sau, Tuấn thông báo cho bà và bà Nữ đưa những người có hồ sơ vay tiền đến Qũy tín dụng làm thủ tục nhận tiền, nhưng sau khi các hộ vay lăn tay xong thì cho về, còn người tên Tuấn ở lại nhận tiền, 02 ngày sau ông Thành thông báo cho bà và bà Nữ đến Doanh nghiệp nhận tiền cho các hộ vay. Trước khi giao tiền, đối với hộ vay 10.000.000 đồng thì Tuấn trừ tiền công đi làm hồ sơ 500.000 đồng và 50.000 đồng làm thẻ thành viên vay vốn, nên hộ ông Xan Sa C chỉ nhận được số tiền 9.450.000 đồng.

Tại phiên tòa bà Hiền không tranh luận.

Ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến dự phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 121, 132, 135, 471, 474 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sựPháp lệnh về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng:

Không chấp nhận yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B về số tiền 47.865.100 đồng (trong đó tiền gốc là 16.500.000 đồng, tiền lãi là 31.365.100 đồng).

Về án phí: Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, thấy rằng:

[1] Về tố tụng: Ông Xan Sa C, bà Lô H, bà Dương Thị H, bà Lâm N là đương sự trong vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt;, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt ông Xan Sa C, bà Lô H, bà Lâm N, bà Dương Thị H.

[2] Về nội dung: Ngày 21/3/2007, giữa Qũy tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B và ông Xan Sa C thỏa thuận ký Hợp đồng tín dụng số: 276/2007/HĐTD, theo hợp đồng thì ông Xan Sa C và bà Lô H vay tại Qũy tín dụng là 25.000.000 đồng, lãi suất cho vay 1,35%/ tháng, lãi suất nợ quá hạn 2,025%/ tháng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay tiền để sửa nhà và mua xe gắn máy, do không biết chữ nên ông Xan Sa C chỉ lăn tay vào hợp đồng.

Trước khi vay tiền, ông Xan Sa C và bà Lô H có thế chấp tài sản là:

- Quyền sử dụng đất 568 m2 đất ( 400m 2 đất lâu dài và 168 m2 đất vườn) thửa số 39, tờ bản đồ số 15. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00163 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 16/8/2001 cấp cho ông Xan Sà C;

- Quyền sử dụng đất 4060 m2 đất ( đất trồng lúa) thửa số 1764, 1947, 1948, 1949, tờ bản đồ số 5. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 001053 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 21/12/1999 cấp cho ông Xan Sà C. Nay Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B yêu cầu ông Xan Sà C và bà Lô H trả lại số tiền gốc và tiền lãi còn nợ là 47.865.100 đồng. Ông Xan Sà C và Lô H cho rằng chỉ vay có 10.000.000 đồng và đã trả xong, không đồng ý với yêu cầu của Quỹ tín dụng nên phát sinh tranh chấp.

[3] Xét yêu cầu của Qũy tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B yêu cầu ông Xan Sa C và bà Lô H trả số tiền vay còn nợ 16.500.000 đồng và tiền lãi trong hạn theo mức lãi suất 1,35%/tháng và tiền lãi quá hạn 2,025%/ tháng tính từ ngày 26/01/2008 đến ngày 13/11/2016 là 31.365.100 đồng và tiếp tục trả tiền lãi theo hợp đồng đến ngày xét xử thấy rằng. Tại thời điểm năm 2007, Qũy tín dụng khi tiến hành thủ tục cho khách hàng vay vốn đã thực hiện không đúng theo Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số: 13/QĐ-HĐQT, ngày 23/02/2005 của Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng Công ty cao su Tân B như: Người trực tiếp giao dịch với khách hàng khi làm thủ tục vay không phải là cán bộ tín dụng của Qũy tín dụng; không xác định nhu cầu vốn vay của khách hàng, nên số tiền vay trong hợp đồng và số tiền khách hàng thực nhận khác nhau, do không biết chữ, nhưng trước khi lăn tay vào hợp đồng không được ai đọc lại nội dung; người không vay tiền nhưng được nhận tiền tại kho quỹ của Qũy tín dụng, còn khách hàng nhận tiền vay tại nhà bà Lâm N và bà Dương Thị H; các hợp đồng tín dụng đều có mức tiền vay từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, nhưng không có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh v.v.

Tại Kết luận thanh tra số 36/KL-TNI5, ngày 19/01/2009 của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Tây Ninh kết luận: “QTD Cao su Tân B cho vay 03 đợt đối với 31 hộ dân tộc Khmer số tiền vay 705 triệu không đúng quy trình cho vay, thông qua người môi giới để người môi giới chiếm dụng vốn vay của khách hàng. Do các hộ vay không biết chữ và không nói thông thạo tiếng Việt nên thông qua 02 người môi giới tạo điều kiện cho 02 người môi giới lợi dụng chiếm dụng vốn vay của các hộ dân tộc 504 triệu đồng. Giám đốc chỉ đạo kế toán và thủ quỹ lập thu khống số tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn số tiền 379 triệu đồng bằng với số tiền giải ngân nhận nợ cho 18 hộ vay vốn để mua xe tại DNTN Sơn Thành Tân, sửa nhà nhưng thực tế người vay chỉ ký nhận trên phiếu chi không nhận tiền vay tại Quỹ. Khi người vay nhận tiền tại DNTN Sơn Thành Tân thông qua người môi giới, 02 đối tượng môi giới chiếm dụng một phần vốn vay, người môi giới thu tiền phí quan hệ và hồ sơ vay vốn mỗi hộ từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng”, nên Kết luận thanh tra chỉ ra: “Điều hành của Giám đốc còn bộc lộ một số sai phạm ngH trọng trong quản lý như: chỉ đạo cán bộ nghiệp vụ làm sai quy định, không báo cáo kịp thời tình hình hoạt động kinh doanh, che dấu các tồn tại, sai sót, đặc biệt là chỉ đạo cán bộ nghiệp vụ làm sai quy định tạo điều kiện cho một số đối tượng bên ngoài vay mượn chiếm dụng, lừa đảo khách hàng vay vốn tại Quỹ”.

Tại bảng kê chi tiết các hộ vay bị chiếm dụng; Công văn số 190/CV-QTD, ngày 11/10/2011; Công văn số143/CV-QTD, ngày 07/7/2014, Qũy tín dụng thừa nhận các hộ vay người dân tộc, người kinh bị chiếm dụng vốn, trong đó hộ ông Xan Sa C theo hợp đồng tín dụng vay 25.000.000 đồng, nhưng thực nhận 10.000.000 đồng, bị chiếm dụng 15.000.000 đồng.

Tại các biên bản giải quyết tại Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh ngày 10/6/2011 và biên bản giải quyết tại Công an xã Tân Đông, huyện Tân Châu ngày 04/8/2010 và ngày 11/5/2010 bà Dương Thị H và bà Lâm N cũng thừa nhận chiếm dụng số tiền của 23 hộ vay vốn là người dân tộc, người kinh tại QTD số tiền 383.500.000 đồng, trong đó số tiền bà Hải chiếm dụng 237.000.000 đồng, bà Lâm N chiếm dụng 146.500.000 đồng.

Với những chứng cứ trên thấy rằng, Hợp đồng tín dụng số 276/2007/HĐTD, ký kết giữa Qũy tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B với ông Xan Sa C ngày 21/3/2007 là vô hiệu do bị lừa dối. Tại đoạn 2 Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”. Đều này hoàn toàn đúng, vì khi lăn tay vào hợp đồng tín dụng, người vay không biết số tiền ghi trong hợp đồng là bao nhiêu, không được cán bộ Qũy tín dụng đọc lại nội dung hợp đồng cho nghe, trong khi người vay không biết chữ, người dân tộc còn không nói được tiếng Việt, trong hợp đồng tín dụng số tiền cho vay nhiều hơn nhu cầu vốn vay của khách hàng, nên số tiền còn lại theo hợp đồng bị người thứ ba chiếm dụng. Do hợp đồng tín dụng vô hiệu, nên hợp đồng thế chấp tài sản số: 111/2007/HĐTC ngày 19/3/2007 và “Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất” không ghi ngày, tháng, năm 2007 giữa đại diện Qũy tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B do ông Trương Văn Vinh ký bên nhận thế chấp với bên thế chấp do ông Xan Sa C và bà Lô H lăn tay được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Tân Châu chứng nhận việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/3/2007 cũng vô hiệu theo, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập, khôi phục lại tình trạng ban đầu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Ông Xan Sa C và bà Lô H có trách nhiệm trả cho Qũy tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B số tiền vay đã nhận 10.000.000 đồng. Nhưng theo phiếu thu Qũy tín dụng Cg cấp đã xác định hộ ông Xan Sa C và bà Lô H đã trả được số tiền 8.500.000 (tám triệu năm trăm nghìn) đồng tiền gốc và 7.310.6000 (bảy triệu ba trăm mười nghìn sáu trăm) đồng tiền lãi là thừa so với số tiền thực nhận. Ông Xan Sa C và bà Lô H không yêu cầu trả lại số tiền dư và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Qũy tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B yêu cầu ông Xan Sa C và bà Lô H trả số tiền vay 16.500.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng là 31.365.100 đồng. Tổng cộng 47.865.100 (bốn mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi lăm ngàn một trăm) đồng.

Quỹ tín dụng Công ty cao su Tân B có trách nhiệm trả cho ông Xan Sa C và bà Lô H 02 Giấy chứng nhận :

- Quyền sử dụng đất 568 m2 đất ( 400m 2 đất lâu dài và 168 m2 đất vườn) thửa số 39, tờ bản đồ số 15. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00163 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 16/8/2001 cấp cho ông Xan Sà C;

- Quyền sử dụng đất 4060 m2 đất ( đất trồng lúa) thửa số 1764, 1947, 1948, 1949, tờ bản đồ số 5. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 001053 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 21/12/1999 cấp cho ông Xan Sà C;

[ 4 ] Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B chịu 500.000 (năm trăm ngàn chi phí thẩm định. Ghi nhận đã nộp xong. Chi phí phiên dịch ghi nhận đã xử lý tại Bản án số: 94/2018/DS-ST, ngày 26/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xong.

[5] Tiền tạm ứng án phí và tiền án phí dân sự sơ thẩm giải quyết theo quy định tại Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. Quỹ tín dụng Công ty cao su Tân B phải chịu là 47.865.100 đồng x 5% = 2.393.000 (hai triệu ba trăm chín mươi ba ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 132, 355, 471 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

1. Tuyên bố Hợp đồng tín dụng số 276/2007/HĐTD, ngảy 21/3/2007 và hợp đồng thế chấp tài sản số: 111/2007/HĐTC ngày 19/3/2007 và “Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất” không ghi ngày, tháng, năm 2007 ký kết giữa Quỹ tín dụng Nhân dân Công ty cao su Tân B do ông Trương Văn Vinh đại diện với ông Xan Sa C là vô hiệu.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B yêu cầu ông Xan Sa C và bà Lô H trả số tiền vay 16.500.000 (mười sáu triệu năm trăm nghìn) đồng và tiền lãi là 31.365.100 (ba mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm) đồng

3. Ông Xan Sa C và bà Lô H đã trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B số tiền 8.500.000 (tám triệu năm trăm nghìn) đồng tiền gốc và 7.310.6000 (bảy triệu ba trăm mười nghìn sáu trăm) đồng tiền lãi. Ghi nhận ông Xan Sa C, bà Lô H không yêu cầu Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B trả lại số tiền dư và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

4. QTD có trách nhiệm trả cho ông Xan Sa C và bà Lô H 02 Giấy chứng nhận :

- Quyền sử dụng đất 568 m2 đất ( 400m 2 đất lâu dài và 168 m2 đất vườn) thửa số 39, tờ bản đồ số 15. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00163 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 16/8/2001 cấp cho ông Xan Sà C;

- Quyền sử dụng đất 4060 m2 đất ( đất trồng lúa) thửa số 1764, 1947, 1948, 1949, tờ bản đồ số 5. Tọa lạc tại ấp Kà O, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 001053 QSDĐ/324/QĐ-UB ngày 21/12/1999 cấp cho ông Xan Sà C;

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B phải chịu 2.393.000 (hai triệu ba trăm chín mươi ba nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm Quỹ tín dụng Nhân dân Công ty cao su Tân B đã nộp 719.000 (bảy trăm mười chín nghìn) đồng theo biên lai thu số 0008660, ngày 04/4/2012 và số tiền 477.000 (bốn trăm bảy mươi bảy nghìn) đồng theo biên lai thu số 0023983, ngày 02/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; Quỹ tín dụng nhân dân Công ty cao su Tân B còn phải nộp 1.197.000 (một triệu một trăm chín mươi bảy nghìn) đồng.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với các đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.


141
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 98/2018/DS-ST ngày 31/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:98/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về