Bản án 97/2017/HSST ngày 14/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 97/2017/HSST NGÀY 14/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố (TP) Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 76/2017/HSST ngày 16 tháng 6 năm 2017, đối với bị cáo: Phạm Xuân T, sinh năm 1991 tại Hà Nam; Trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Con ông Phạm Xuân T (đã chết) và bà Chu Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 09/9/2014 bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng; Bị tạm giữ từ ngày 30/3/2017 và chuyển tạm giam từ ngày 05/4/2017 đến nay; Có mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09h30’ ngày 30/3/2017, Phạm Xuân T đang ở nhà thì có bạn nghiện tên Th (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện rủ xuống TP P cho ma túy để sử dụng. T đi xe ôm đến siêu thị M, thuộc tổ 12, phường T, TP P, Hà Nam gặp Th đang ngồi trong quán nước. Th nói:  “Tí nữa mày vào trong kia lấy hàng, có thằng em đưa cho rồi mang ra đây cho anh, anh chỉ lấy đá, còn cho mày chỗ hàng trắng”. Sau đó, Th bảo T đi vào trong ngõ nhỏ gần siêu thị M để lấy ma túy, T đi vào và gặp một nam thanh niên (không quen biết). Thế nói “Em là em của anh Th”, người thanh niên kia không nói gì đưa cho T một vỏ bao thuốc lá Vinataba, biết bên trong có ma túy nên T cầm và quay lại chỗ Th ngồi đưa cho Th. Th mở bao thuốc lá ra lấy 01 gói giấy bạc màu vàng mở ra bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và chất bột màu trắng dạng cục, Th lấy gói nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng rồi gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lại như cũ và bỏ vào bên trong vỏ bao thuốc lá Vinataba đưa cho T nói “Thôi em đi về đi”. Thế cầm vỏ bao thuốc lá bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục Th đưa, đi được khoảng 50m thì bị lực lượng Công an phường M, TP P yêu cầu kiểm tra phát hiện thu giữ vật chứng gồm: 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba mở ra bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa 03 cục chất bột màu trắng đục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft màu da cam.

*Khám xét khẩn cấp đối với nơi ở, đồ vật của Phạm Xuân T không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan.

*Ngày 30/3/2017, Cơ quan CSĐT - Công an TP Phủ Lý ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam giám định: Chất bột màu trắng dạng cục bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

Tại bản kết luận giám định số 61/PC54-MT ngày 02/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hà Nam, kết luận “Chất bột màu trắng dạng cục bên trong 01 gói giấy bạc trong mẫu ký hiệu QT01 gửi giám định có trọng lượng 0,315 gam, có Heroine. Heroine là chất ma túy nằm trong  danh mục I, STT 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ”.

* Quá trình điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện. Tại bản cáo trạng số 93/KSĐT-MT ngày 15 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam  truy tố Phạm Xuân T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1- Điều 194 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý luận tội: giữ nguyên quan điểm kết tội đối với bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như bản cáo trạng, không có ý kiến gì thay đổi hoặc bổ xung đối với vụ án. Sau khi đánh giá, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đồng thời căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội để áp dụng các quy định theo hướng có lợi cho bị cáo, đề nghị HĐXX: áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, với mức án từ 30 đến 36 tháng tù và đề xuất hướng xử lý vật chứng đã thu giữ.

- Bị cáo Phạm Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện vào sáng ngày 30/3/2017 tương tự như lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra cũng như nội dung cáo trạng đã nêu và xác định rõ: việc cất giấu gói ma tuý đó là để sử dụng cá nhân, bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý từ năm 2013, ngoài ra không có bất cứ mục đích gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên,bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay cơ bản phù hợp với lời khai của người làm chứng tại hiện trường, những vật chứng đã thu giữ cũng như các văn bản tố tụng hình sự khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định về ma tuý cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:  khoảng 10h30’ ngày 30/3/2017, tại tổ 12, phường T, TP P, tỉnh Hà Nam, Phạm Xuân T đang cất giữ trái phép 0,315 gam, có Heroine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường Minh Khai, TP Phủ Lý phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Phạm Xuân T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1- điều 194 Bộ luật hình sự (BLHS) 1999.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo như bản cáo trạng là hoàn toàn thoả đáng, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại khu vực nội thành TP Phủ Lý. Hành vi đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho những phần tử xấu lợi dụng để mua bán, tổ chức trái phép chất ma tuý đe dọa trực tiếp đến cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, làm xã hội mất ổn định.

Bản thân bị cáo là một thanh niên có sức khoẻ lao động, nhưng lại không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, thích thể hiện lối sống tự do, buông thả nên đã sớm sa vào con đường nghiện ngập ma tuý, do đó ngày 09/9/2014 đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng, nhưng vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu sửa, lại tiếp tục tái nghiện, dẫn đến phạm tội .

Xét thấy, việc đưa vụ án ra xét xử kịp thời và tuyên cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo về ý thức tuân thủ luật pháp trở thành công dân tốt cũng như để răn đe, phòng ngừa các hành vi tương tự trong xã hộ. Tuy nhiên, khi lượng hình cần phải xem xét:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: trong các giai đoạn tố tụng trước đó cũng như tại phiên toà bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi đã thực hiện. Mặt khác, mặc dù Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng thấy hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã phạm vào Khoản 1- điều 249 BLHS năm 2015 với hình phạt quy định từ 01 năm đến 05 năm tù (nhẹ hơn hình phạt quy định tại Khoản 1- Điều 194 BLHS năm 1999 từ 02 năm đến 07 năm tù). Do đó, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, HĐXX sẽ áp dụng để quyết định hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo theo tinh thần như đã hướng dẫn tại Nghị quyết.

Với phân tích nêu trên, HĐXX sẽ cân nhắc để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng, xây dựng cuộc sống gia đình, đồng thời thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.

* Hình phạt bổ sung: xét mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 - điều 194 Bộ luật hình sự.

*Xử lý vật chứng hiện đang thu giữ:

- Số Heroine cùng bao gói thu giữ của Phạm Xuân T, được hoàn trả sau giám định, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu huỷ

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft  thu giữ của Phạm Xuân T. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, còn giá trị sử dụng, nên phải tịch thu sung quỹ Nhà nước

* Về nguồn gốc số Heroine thu giữ trong vụ án: quá trình điều tra và tại Toà, Phạm Xuân T khai là của 01 người đàn ông tên Th (không biết địa chỉ, lai lịch) rủ T đến khu vực siêu thị Minh Khôi (TP Phủ Lý) sau đó bảo Thế đi vào ngõ gần đó lấy ma túy của 01 người thanh niên khoảng 25 tuổi (không quen biết) để sử dụng. Cơ quan CSĐT- Công an TP Phủ Lý đã phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành xác minh nhưng không xác định được 02 người này. Do đó, không có căn cứ để xử lý theo pháp luật, HĐXX không đề cập

* Bị cáo có nghĩa vụ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố: bị cáo Phạm Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1- điều 194; Điểm p- khoản 1- điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3- điều 7 và Khoản 1- điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt: bị cáo Phạm Xuân T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2017.

2/ Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Xuân T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

3/ Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong, mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01 số 61/PC54-MT” của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft, vỏ nhựa màu cam - đen đã qua sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).

4/ Căn cứ Điều 99, 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Phạm Xuân T phải nộp 200.000đ.

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


78
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về