Bản án 96/2020/HSST ngày 19/11/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 96/2020/HSST NGÀY 19/11/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 xét xử sơ thẩm Vụ án hình sự thụ lý số 97/2020/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

P.X.T; giới tính: Nữ; sinh ngày xx5 tháng yy năm 19xx; nơi sinh: Thành phố Cần Thơ; hộ khẩu thường trú tại: xx đường yy, Phường xx, Quận yy, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: xx đường yy, Phường xx, Quận yy, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông .P.V.T và bà N.T.L; chồng: Ông V.Q.H; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2020, đến ngày 26/7/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" (bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông V.Q.H, sinh năm 19xx; địa chỉ: xx đường yy, Phường xx, Quận yy, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: xx đường yy, Phường xx, Quận yy, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

- Bà T.T.L, sinh năm 19xx; địa chỉ: xx đường yy, Phường xx, Quận yy, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 23/7/2020, Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 11 kiểm tra nhà số xx đường yy, Phường 6, Quận 11 phát hiện bắt quả tang P.X.T đang bán số đề cho T.T.L, thu giữ: 5.110.000 đồng; 02 tờ phơi đề tổng; 08 tờ phơi đề nhỏ; 03 tờ giấy than; 02 cây viết; 02 máy tính Casio; 01 máy Ipad màu đen; tiền Việt Nam: 47.000.000 đồng trong ngăn tủ và 1.200 USD trong bóp nằm trong tủ nên đưa người cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường 6 Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 11, bị cáo P.X.T khai nhận:

Thanh bắt đầu bán số đề cho người chơi đề từ đầu tháng 5/2020. Hình thức chơi làT trực tiếp thắng thua với người mua đề. Khi có người đến mua số đề,T dùng giấy có kẹp giấy than ở giữa rồi dùng viết ghi số đề và số tiền mà người mua đề ghi.T giao cho người ghi đề 1 bản cònT giữ 1 bản để cuối giờ tổng hợp vào phơi lớn đểT theo dõi việc thắng thua trong ngày. DoT là người trực tiếp thắng thua với người ghi đề nênT trừ tiền hoa hồng cho khách 20% trên tổng số tiền khách mua đề.T bán số đề tại nhà số xx đường yy, Phường 6, Quận 11, mỗi ngày từ 14 giờT bán số đề cho khoảng 12-13 khách đến mua với số tiền từ 3.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng tùy theo từng ngày. Khách mua đề đa phần là những người bán vé số dạo và khách vãng lai. Đến 16 giờ thìT không ghi đề mà tổng hợp phơi đề vào tờ phơi đề tổng để đối chiếu kết quả xổ số của từng đài và trực tiếp ăn thua với khách. Ngày 23/7/2020,T bán số đề cho 12 khách rồi tổng hợp các số đề vào hai tờ đề tổng. Qua kiểm tra hai tờ phơi tổng thì tổng số tiền ghi đề trong ngày 23/7/2020 là 6.161.700 đồng. Tiền thu được từ việc ghi số đềT dùng để chi trả cho người trúng thưởng và chi dùng trong gia đình nên không nhớ tổng số tiền thu lợi được bao nhiêu.

Đối tượng T.T.L, là người ghi đề khai: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 23/7/2020, L đến gặpT tại nhà số xx đường yy, Phường 6, Quận 11 để mua số đề 538, 983, 617, 477, 134 với tổng số tiền là 238.000 đồng. Sau khi trừ tiền hoa hồng 20% trên tổng số tiền khách mua đề, số tiền L phải trả choT là 190.000 đồng nhưng chưa kịp giao tiền choT thì bị Công an Quận 11 kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

- Tiền Việt Nam: 5.300.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội, gồm có 5.110.000 đồng của bị cáoT và 190.000 đồng của đối tượng T.T.L.

- 02 tờ phơi đề tổng, 08 tờ phơi đề nhỏ, 03 tờ giấy than, 02 cây viết, 02 máy tính Casio, là những dụng cụ dùng vào việc ghi đề của bị cáoT.

- Tiền Việt Nam: 47.000.000 đồng và 1.200 USD thu giữ trong ngăn tủ nhà nhà bị cáo P.X.T.T khai đây là tiền của anh Voòng QuốcH là chồng bị cáo dùng để trị bệnh. AnhH khai số tiền 47.000.000 đồng và 1.200 USD là tiền của anhH được anh chị ruột sinh sống tại nước ngoài gửi cho để anh điều trị bệnh đột quỵ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại những số tiền trên cho anh Vo òng QuốcH do không liên quan đến vụ án.

- 01 máy Ipad màu đen có số serial: DMPYHKBQLMPD thuộc sở hữu của bị cáoT, không liên quan đến việc ghi số đề. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại máy Ipad trên cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSQ11 ngày 19/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo P.X.T tội danh “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận có thu nhập bất chính từ việc bán số đề nhưng không nhớ tổng số tiền thu nhập này là bao nhiêu.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo P.X.T như sau:

Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo P.X.T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Đồng thời, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị xử lý vật chứng như sau:

- Lưu vào hồ sơ vụ án 02 tờ phơi đề tổng, 08 tờ phơi đề nhỏ.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.300.000 đồng, đây là tiền đánh bạc, gồm có 5.110.000 đồng của bị cáoT và 190.000 đồng của đối tượng T.T.L.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 02 máy tính Casio, là dụng cụ dùng vào việc ghi đề của bị cáo.

- Tịch thu và tiêu hủy 03 tờ giấy than, 02 cây viết, - Tiền Việt Nam 47.000.000 đồng và 1.200 USD không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại số tiền trên cho anhH là đúng quy định pháp luật nên không cần giải quyết lại trong vụ án.

- 01 máy Ipad màu đen có số serial: DMPYHKBQLMPD là tài sản của bị cáoT, không liên quan đến việc ghi số đề. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại máy Ipad trên cho bị cáoT là đúng quy định pháp luật nên không cần giải quyết lại trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Ngày 23/7/2020, bị cáo P.X.T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số đề với số tiền có được từ việc bán số đề là 6.161.700 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn xã hội với mục đích, động cơ là thu lợi bất chính. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo cần được xử lý nghiêm trước pháp luật để trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và bị cáo không thuộc “Những trường hợp không cho hưởng án treo” theo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để cho bị cáo P.X.T được hưởng án treo, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ có tác dụng giáo dục đối với bị cáo. Đồng thời, cần ấn định cho bị cáo một thời gian thử thách để răn đe và phòng ngừa bị cáo tái phạm.

Về tình tiết tăng nặng: Không có Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo P.X.T đã có thu nhập bất chính từ việc bán số đề nên cần phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng T.T.L, là người mua số đề của bị cáoT, hiện nay đã bỏ đi khỏi nơi cư trú. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục truy xét, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[2] Về xử lý vật chứng:

- Lưu vào hồ sơ vụ án 02 tờ phơi đề tổng, 08 tờ phơi đề nhỏ, đây là các chứng cứ của vụ án.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.300.000 đồng, đây là số tiền đánh bạc, gồm có 5.110.000 đồng của bị cáoT và 190.000 đồng của đối tượng T.T.L.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 02 máy tính Casio, là dụng cụ dùng vào việc ghi đề của bị cáoT.

- Tịch thu và tiêu hủy 03 tờ giấy than, 02 cây viết, là những dụng cụ phục vụ cho việc ghi đề của bị cáo và không còn giá trị sử dụng.

- Tiền Việt Nam 47.000.000 đồng và 1.200 USD không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền trên cho anh Voòng QuốcH là đúng quy định pháp luật nên không cần giải quyết lại trong vụ án.

- 01 máy Ipad màu đen có số serial: DMPYHKBQLMPD là tài sản của bị cáoT, không liên quan đến việc ghi số đề. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại máy Ipad trên cho bị cáoT là đúng quy định pháp luật nên không cần giải quyết lại trong vụ án.

[3] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo P.X.T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo P.X.T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 19/11/2020.

Phạt bổ sung: Buộc bị cáo P.X.T nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Việc nộp tiền phạt được thực hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật để nộp ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo P.X.T cho Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo P.X.T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử lý vật chứng:

- Lưu vào hồ sơ vụ án 02 (hai) tờ phơi đề tổng, 08 (tám) tờ phơi đề nhỏ.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăn nghìn đồng), gồm có 5.110.000 đồng (năm triệu một trăm mười nghìn đồng) của bị cáo P.X.T và 190.000 đồng (một trăm chín mươi nghìn đồng) của đối tượng T.T.L.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 02 máy tính Casio.

- Tịch thu và tiêu hủy 03 tờ giấy than, 02 cây viết.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 93/LNK-ĐCSHS ngày 07/8/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo P.X.T chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng);

Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

(Thẩm phán chủ tọa đã giải thích cho bị cáo về chế định án treo).


23
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về